Monday, November 30, 2009

Kinh tế Việt Nam 2008 - Suy giảm và thách thức đổi mới



Tác giả : CEPR (Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách)
Số trang : 360 trang
Giá bìa : 62000 VNĐ
Khổ sách : 16 x 24 cm
Loại bìa : Mềm
Phát hành : Công ty CP Đại lý xuất bản VNN
Năm xuất bản : 2009

Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam của CEPR là các báo cáo được xuất bản hằng năm nhằm tổng kết những thành tựu và khó khăn, cơ hội và thách thức của nền kinh tế Việt Nam, đồng thời thảo luận có chọn lọc một số vấn đề kinh tế lớn ở mức chuyên sâu. Các vấn đề kinh tế đó được ngụ ý là những vấn đề quan trọng của năm đó và/hoặc có vai trò quan trọng trong những năm tới. Các vấn đề này được nhóm tác giả lựa chọn trên cơ sở tham khảo ý kiến của giới chuyên gia kinh tế trên một cơ sở rộng rãi và khoa học.

Hiện nay, ở Việt Nam đã có một số báo cáo kinh tế thường niên được các cơ quan có chuyên môn và thẩm quyền xuất bản. Đây là những báo cáo có giá trị tham khảo cao, với số liệu được cập nhật chi tiết và hệ thống. Tuy nhiên, các báo cáo này đều có khuynh hướng bao quát những vấn đề lớn của nền kinh tế trong một cấu trúc tương đối ổn định, mà không đi chuyên sâu vào từng chủ đề theo từng năm hay từng thời kỳ. Thêm vào đó, đa phần các báo cáo này đều do các cơ quan chức năng của chính phủ xây dựng, mà không phải do một tổ chức học thuật trong trường đại học xuất bản.

Do đó, Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam của CEPR được xây dựng với những đặc thù mới và khác biệt như sau:

1. Có cấu trúc khác với cấu trúc của các báo cáo truyền thống. Nội dung được tổ chức theo cơ cấu gồm một hoặc hai chương đầu tiên đánh giá tổng quan nền kinh tế thế giới và Việt Nam trong năm nghiên cứu. Tiếp đó, là các chương đi sâu vào từng chủ đề quan trọng của năm hoặc trong năm tới. Nội dung của mỗi chương mang tính độc lập tương đối, có đầy đủ các thành phần của một bài nghiên cứu hướng tới giải quyết vấn đề được nêu. Vì vậy, mỗi chương không chỉ đơn thuần mang tính thống kê hoặc phân tích hiện tại, mà còn cung cấp cơ sở lý luận, hệ thống hoá lý luận và kinh nghiệm lịch sử của vấn đề. Trên cơ sở đó, đưa ra những thảo luận và gợi ý chính sách trong điều kiện hiện tại của Việt Nam. Do các chủ đề được chọn sẽ thay đổi theo từng năm, tập hợp của Báo cáo qua các năm được kỳ vọng sẽ có ý nghĩa tham khảo mang tính hệ thống, và có ý nghĩa nhiều hơn một năm.

2. Cơ quan chuyên môn tổ chức thực hiện báo cáo, Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (CEPR), là một tổ chức nghiên cứu thuộc trường đại học, do đó, có ý thức duy trì những nhận định và thảo luận mang tính khách quan và độc lập nhất có thể (trong mối tương quan với các cơ quan chức năng của chính phủ hoặc cơ quan lập chính sách.) CEPR cũng không chịu sự chi phối của một hay một nhóm doanh nghiệp, hoặc các tổ chức quốc tế.

3. Nhóm tác giả được CEPR mời tham gia đều là các nhà kinh tế hoặc chuyên gia kinh tế có tư duy và tiếng nói độc lập. Thành phần nhóm tác giả có thể thay đổi theo từng năm, phụ thuộc vào các chủ đề chuyên sâu trong mỗi năm. Tuy nhiên, về tổng thể, toàn bộ các tác giả đều thuộc thế hệ các nhà kinh tế trẻ của Việt Nam, được đào tạo chuyên sâu tại các nước phát triển, sử dụng công cụ nghiên cứu hiện đại, giàu kinh nghiệm với thực tiễn kinh tế Việt Nam, và tâm huyết với quá trình phát triển của đất nước. Trong quá trình xây dựng Báo cáo, nhóm tác giả cũng thực hiện các buổi toạ đàm chuyên sâu để lấy ý kiến đóng góp và phản biện từ các nhà kinh tế hàng đầu trong và ngoài nước.

4. Ngoài mục đích cung cấp thông tin, tri thức cho người đọc là doanh nghiệp, tổ chức và giới nghiên cứu, Báo cáo còn được kỳ vọng như một kênh thảo luận và đối thoại chính sách hữu hiệu với Chính phủ và các cơ quan chức năng trong lĩnh vực quản lý kinh tế.

Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (CEPR) mong muốn các tổ chức, cá nhân hay doanh nghiệp cùng tham gia đồng tổ chức việc thực hiện Báo cáo hằng năm, trên cơ sở đóng góp nguồn trí tuệ, tài chính và các nguồn lực cần thiết khác. Trong sản phẩm đầu tiên của loạt báo cáo này, Báo Sài Gòn Tiếp thị đã cùng CEPR hợp tác đồng tổ chức thực hiện dự án báo cáo cho năm 2009. Ấn phẩm mà độc giả đang cầm trên tay là kết quả của chương trình hợp tác đó.
Chúng tôi hy vọng rằng dự án Báo cáo Thường niên Kinh tế của CEPR sẽ lôi cuốn được nhiều tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp trong những năm tiếp theo, để Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (CEPR) có thể cho ra đời những báo cáo khoa học và kịp thời về nền kinh tế Việt Nam.



Hà Nội, ngày 27/04/2009
TS. Nguyễn Đức Thành
Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (CEPR)
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội



*****

Một số thông tin về các đơn vị tổ chức thực hiện Báo cáo

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH (CEPR) được thành lập ngày 07/07/2008, là trung tâm nghiên cứu trực thuộc Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. CEPR có tư cách pháp nhân, đặt trụ sở chính tại hiệu bộ Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội tại Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội.



Mục tiêu của CEPR là thực hiện các nghiên cứu kinh tế và chính sách nhằm giúp nâng cao chất lượng ra quyết định của các cơ quan hoạch định chính sách, doanh nghiệp và các nhóm lợi ích, dựa trên sự thấu hiểu bản chất của những vận động kinh tế và quá trình điều hành chính sách vĩ mô ở Việt Nam. Hoạt động chính của CEPR bao gồm phân tích định lượng các vấn đề của nền kinh tế và tác động của chúng tới các nhóm lợi ích; tổ chức các hội thảo đối thoại chính sách với mục đích tạo điều kiện cho các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo doanh nghiệp và tổ chức xã hội cùng gặp gỡ, trao đổi nhằm đề xuất giải pháp cho các vấn đề chính sách nổi cộm; đồng thời tổ chức các khóa đào tạo nâng cao về kinh tế, tài chính và phân tích chính sách.

Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (CEPR)
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
Địa chỉ: Phòng 704, Nhà E4, 144 Đường Xuân Thủy, Quận Cầu Giấy, Hà Nội
Tel: (84) 4 3754 7506/ext 704 -714 / Fax: (84) 4 3704 9921
Email: Info@cepr.org.vn / Website: www.cepr.org.vn



BÁO SÀI GÒN TIẾP THỊ được thành lập ngày 15/04/1999, là cơ quan ngôn luận của Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh, có trụ sở chính tại 25 Ngô Thời Nhiệm, Phường 6, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh.

Báo Sài Gòn Tiếp thị
25 Ngô Thời Nhiệm, Phường 6, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh
Tel: (84) 8 3930 5473 - 39305474 / Fax: (08) 39305470
Email: sgtt@sgtt.com.vn / Website: www.sgtt.com.vn

*****



Các tác giả

TS. Phạm Thế Anh: tốt nghiệp TS kinh tế ở Anh, chuyên gia về kinh tế vĩ mô và dự báo, từng tham gia Nhóm Tư vấn Chính sách của Bộ Tài chính, giảng viên Đại học Kinh tế Quốc dân, kiêm Nghiên cứu viên cao cấp của CEPR.

TS. Từ Thuý Anh: tốt nghiệp TS kinh tế ở Mỹ, chuyên gia kinh tế quốc tế, giảng viên Đại học Ngoại thương Hà Nội, cộng tác viên của CEPR.

TS. Phạm Văn Hà: tốt nghiệp TS kinh tế tại Australia, chuyên gia kinh tế vĩ mô và mô hình hóa (CGE), hiện đang làm việc trong một dự án của UNDP, cộng tác viên của CEPR.

TS. Lê Hồng Giang: tốt nghiệp TS kinh tế ở Australia, chuyên gia kinh tế vĩ mô, tài chính quốc tế và mô hình hóa, nguyên giảng viên Chương trình Kinh tế Fulbright tại TP. Hồ Chí Minh, Giám đốc Quỹ Ngoại hối của công ty đầu tư Tactical Global Management, Australia.

Th.S Jago Penrose: tốt nghiệp ở Anh, nguyên là chuyên gia kinh tế của UNDP Việt Nam, chuyên gia về tổ chức doanh nghiệp và các ngành công nghiệp, nghiên cứu viên cao cấp của CEPR.

TS. Nguyễn Đức Thành: tốt nghiệp TS kinh tế ở Nhật, chuyên gia về kinh tế vĩ mô, từng tham gia Nhóm Tư vấn Chính sách của Bộ Tài chính, là giảng viên Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, Giám đốc kiêm Kinh tế trưởng của CEPR.

TS. Tô Trung Thành: tốt nghiệp TS kinh tế ở Anh, giảng viên Khoa Kinh tế học, Đại học Kinh tế Quốc dân, chuyên gia kinh tế vi mô và kinh tế lượng, các mô hình dự báo, cộng tác viên của CEPR.
Mục lục sách

Lời giới thiệu
Nhà tổ chức
Các tác giả
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục hình và đồ thị
Danh mục bảng
Danh mục hộp
Danh mục các chữ viết tắt
Tóm tắt

TS. LÊ HỒNG GIANG
Khủng hoảng tài chính và kinh tế thế giới 2008
Dẫn nhập
Khủng hoảng địa ốc
Khủng hoảng thanh khoản và hệ thống ngân hàng
Khủng hoảng giá dầu và các loại nguyên liệu thô
Suy thoái kinh tế
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục Chương 1

TS. PHẠM VĂN HÀ
Tổng quan kinh tế vĩ mô Việt Nam 2008
Dẫn nhập
Diễn biến kinh tế vĩ mô
Thị trường tài chính
Chính sách kinh tế vĩ mô
Một số thách thức kinh tế vĩ mô năm 2009
Tài liệu tham khảo

TS. PHẠM THẾ ANH
Quản lý tổng cầu trong môi trường bất ổn vĩ mô
Dẫn nhập
Diễn biến lạm phát năm 2008
Đánh giá chính sách tiền tệ
Ổn định kinh tế vĩ mô và hiệu quả của các chính sách quản lý tổng cầu
Kết luận
Tài liệu tham khảo

TS. TỪ THÚY ANH
Chính sách thương mại quốc tế trong bối cảnh suy thoái toàn cầu
Dẫn nhập
Tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2008
Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu: thương mại nội ngành hay liên ngành
Cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu
Chính sách thương mại
Kết luận
Tài liệu tham khảo

Phụ lục Chương 4

TS. NGUYỄN ĐỨC THÀNH
Biến động của thị trường chứng khoán dưới góc nhìn kinh tế vĩ mô
Dẫn nhập
Thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2008
Những nền tảng được xây dựng trong giai đoạn 2006-2008
Ảnh hưởng của kỳ vọng tới trạng thái thị trường
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục Chương 5

TS. TÔ TRUNG THÀNH
Năng lực cạnh tranh ngành công nghiệp Việt Nam trong bối cảnh khủng khoảng kinh tế thế giới

Dẫn nhập
Chặng đua không cân sức – Việt Nam tụt hậu quá xa và dễ bị tổn thương
Chưa có một chiến lược xây dựng năng lực cạnh tranh hiệu quả, rõ ràng và nhất quán
Kết luận
Tài liệu tham khảo

THS. JAGO PENROSE
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam: Tăng cường thu hút hay tăng cường quản lý?
Dẫn nhập
Những đóng góp của FDI
Những hạn chế của FDI
Kết luận
Tài liệu tham khảo

TS. NGUYỄN ĐỨC THÀNH
Viễn cảnh kinh tế năm 2009 và hàm ý chính sách
Viễn cảnh kinh tế Việt Nam năm 2009
Khuyến nghị chính sách
Tài liệu tham khảo

NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
Phụ lục Báo cáo
Phụ lục 1: Phụ lục Thống kê
Phụ lục 2: Những chính sách vĩ mô nhằm bình ổn nền kinh tế trong năm 2008 và đầu 2009
Tài liệu tham khảo


=> Sách hay, đạt được những mục tiêu ban đầu của nhóm tác giả nêu ra. Cấu trúc khác lạ gồm nhiều chương độc lập của từng tác giả nghiên cứu. Nội dung cung cấp thông tin và thảo luận tình hinh kinh tế Việt nam và thế giới năm 2008 với những phân tính và đánh giá cụ thể, dễ hiểu.
Tuy nhiên, sách có sai sót về xử lý số liệu:
- Bảng 8.3, trang 270: có sai sót về đơn vị của bảng tính hoặc sai trong việc sử dụng dấu chấm (.) và dấu phẩy (,) khi phân định phần thập phân, phần nghìn. Điển hình: nếu hàng "Sai số và sai sót" là -100 tỷ USD là đúng và theo cách sử dụng dâu chấm (.) xuyên suốt trong bảng tính để phân định phần nghìn thì thâm hụt cán cân thanh toán trong cột cuối cùng sẽ là 2442 tỷ USD. Nhưng trong phần nhận xét của trang sau thì tác giả thể hiện ý định thâm hụt cán cân thanh toán trong kịch bản (cột cuối cùng) chỉ là 2,45 tỷ USD (gần hai tỷ rưỡi). Như vậy, nếu bảng tính đúng thì đơn vị bảng tính phải là triệu USD (thay vì tỷ USD). Ngoài ra, cũng trong bảng tính này, số liệu cán cân thương mại 2008 ước tính thì lại lẫn lộn giữa dấu chấm và dấu phẩy, sai sót này có thể do đánh máy.

Monday, November 2, 2009

Cẩm nang ngân hàng đầu tư - Mạc Quang Huy



Năm xuất bản:2009
Đơn vị xuất bản:Thống kê
Giá sách:250.000 VND
Số trang:725

Sau 9 năm hình thành và phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, ngày càng thể hiện vai trò là một kênh huy động vốn dài hạn không thể thiếu của nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng. Đặc biệt, từ năm 2006 đến nay, thị truờng chứng khoán đã có tốc độ tăng truởng rất mạnh, thu hút một lượng lớn các nhà đầu tư tham gia và tạo thành một hiện tượng kinh tế của Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới. Thực tế cho thấy, trong hoạt động của thị trường vốn ở các nước phát triển thì ngân hàng đầu tư là một trong những chủ thể quan trọng nhất.

Tại Việt Nam, tuy ngân hàng đầu tư còn là một khái niệm mới mẻ, song đã xuất hiện một số công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ với các hoạt động phôi thai theo hướng các nghiệp vụ của ngân hàng đầu tư. Đồng thời, một số ngân hàng thương mại lớn cũng đang trong quá trình chuyển đổi sang mô hình tập đoàn tài chính, trong đó có chú trọng đẩy mạnh phát triển mảng ngân hàng đầu tư. Đây là sự phát triển tất yếu mà các nước phát triển đã trải qua và là một định hướng đúng của nền kinh tế.

Để giúp đông đảo bạn đọc tìm hiểu về ngân hàng đầu tư, Nhà xuất bản Thống kê cho ra mắt bạn đọc cuốn “Cẩm nang ngân hàng đầu tư” của tác giả Mạc Quang Huy, một chuyên gia giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, đã nhiều năm công tác tại các ngân hàng đầu tư quốc tế lớn trên thế giới.

Với 22 chương, nội dung cuốn “Cẩm nang ngân hàng đầu tư” không chỉ trình bày bản chất của ngân hàng đầu tư; cách thức tổ chức hoạt động; các nhóm sản phẩm và nghiệp vụ chính của ngân hàng đầu tư; cách thức quản lý hoạt động và rủi ro, mà còn đề cập đến một số khía cạnh quan trọng của cuộc khủng hoảng tài chính đương đại và ảnh hưởng của nó tới hiện tại cũng như tương lai phát triển của ngành ngân hàng đầu tư. Cuốn “Cẩm nang ngân hàng đầu tư” dành một chương nghiên cứu về thực trạng thị trường vốn và tiềm năng phát triển ngành ngân hàng đầu tư tại Việt Nam. Cuốn cẩm nang này không trình bày quá sâu về từng loại nghiệp vụ cụ thể của ngân hàng đầu tư.

Do nghiệp vụ ngân hàng đầu tư còn khá mới mẻ ở Việt Nam, nên khi biên soạn cuốn cẩm nang này, bằng kiến thức và kinh nghiệm vốn có của người trong cuộc, trên cơ sở tham khảo các nguồn tài liệu tin cậy, kết hợp với diễn biến thực tế của thị trường vốn Việt Nam, tác giả đã cố gắng trình bày cuốn cẩm nang theo một cách viết khoa học, đơn giản và dễ hiểu. Các thuật ngữ chuyên ngành cũng đã được Tác giả Việt hóa theo hướng giải thích bản chất hơn là sáng tác ra những thuật ngữ khó hiểu. Khi cần thiết sử dụng các khái niệm hay thuật ngữ mới, Tác giả cũng tham chiếu thuật ngữ tiếng Anh để bạn đọc tham khảo và tránh hiểu nhầm trong trường hợp nghĩa tiếng Việt chưa được rõ. Trong quá trình nghiên cứu, có thể bạn đọc sẽ gặp một số thuật ngữ mới chưa được giải thích ngay. Xin hãy kiên nhẫn vì các khái niệm đó sẽ được giải thích trong các phần sau của cuốn cẩm nang.

Cuốn “Cẩm nang ngân hàng đầu tư” là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đồng nghiệp, các nhà quản lý, các cán bộ, giảng viên và sinh viên chuyên ngành tài chính, ngân hàng (đặc biệt là khối đại học và nghiên cứu sau đại học), các giám đốc tài chính của các doanh nghiệp, các nhà báo chuyên mục kinh tế,…

“Cẩm nang ngân hàng đầu tư” xuất bản lần đầu ở Việt Nam khó tránh khỏi thiếu sót. Mong bạn đọc góp ý kiến, phê bình.



MỤC LỤC

PHẦN 1 - NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ

Chương 1: Tổng quan ngân hàng đầu tư

1.1- Khái niệm ngân hàng đầu tư

1.2- Các nghiệp vụ chính

1.3- Các dòng sản phẩm đầu tư

1.4- Các tên tuổi lớn trong ngành ngân hàng đầu tư

1.5- Quy mô hoạt động toàn cầu

1.6- Xu hướng phát triển của ngành

1.7- Tác động của khủng hoảng tài chính tới ngành ngân hàng đầu tư

1.8- Tiềm năng ngân hàng đầu tư tại Việt Nam

1.9- Hãy cùng nhau cập nhật!

Chương 2: Ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại

2.1- Ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại

2.2- Sự ra đời của ngân hàng tổng hợp

2.3- Các mô hình ngân hàng đầu tư

Chương 3: Tổ chức hoạt động ngân hàng đầu tư

3.1- Mô hình tổ chức của ngân hàng đầu tư

3.2- Cơ cấu tổ chức bộ phận kinh doanh

3.3- Cơ cấu tổ chức bộ phận quản trị rủi ro

3.4- Cơ cấu tổ chức bộ phận điều hành

3.5- Sự tương tác và tính độc lập giữa các khối kinh doanh

3.6- Tham khảo mô hình tổ chức của Morgan Stanley

3.7- Mô hình quản trị và điều hành của ngân hàng đầu tư

3.8- Môi trường hoạt động của ngân hàng đầu tư

Chương 4: Sản phẩm có thu nhập cố định

4.1- Giới thiệu chung

4.2- Chứng khoán nợ do chính phủ phát hành

4.3- Trái phiếu do các cơ quan chính phủ phát hành

4.4- Chứng khoán nợ chính quyền địa phương

4.5- Chứng khoán nợ doanh nghiệp

Chương 5: Đầu tư sản phẩm có thu nhập cố định

5.1- Rủi ro đầu tư chứng khoán nợ

5.2- Định mức tín nhiệm chứng khoán nợ

5.3- Một số khái niệm cơ bản trong phân tích chứng khoán nợ

5.4- Nghiệp vụ repo trái phiếu

5.5- Một số chiến thuật đầu tư chứng khoán nợ

Chương 6: Sản phẩm và đầu tư chứng khoán vốn

6.1- Khái niệm nghiệp vụ chứng khoán vốn

6.2- Cổ phiếu

6.3- Trái phiếu chuyển đổi

6.4- Quyền chọn mua, bán cổ phiếu

6.5- Chứng quyền cổ phiếu

6.6- Nghiệp vụ tài trợ cổ phiếu

6.7- Chiến thuật đầu tư cổ phiếu

6.8- Phân tích cơ bản trong đầu tư cổ phiếu

6.9- Phân tích kỹ thuật trong đầu tư cổ phiếu

Chương 7: Phát hành chứng khoán vốn và chứng khoán nợ

7.1- Nghiệp vụ ngân hàng đầu tư

7.2- Phát hành chứng khoán vốn

7.3- Bảo lãnh phát hành chứng khoán nợ

Chương 8: Mua bán, sáp nhập doanh nghiệp

8.1- Mua bán, sáp nhập doanh nghiệp

8.2- Quy trình mua bán, sáp nhập doanh nghiệp

8.3- Soát xét đặc biệt

8.4- Phí tư vấn mua bán, sáp nhập

8.5- Các chiến thuật chống thôn tính thù nghịch

8.6- Tài trợ vốn cho các giao dịch mua bán, sáp nhập

8.7- Mua bán, sáp nhập các công ty đại chúng

8.8- Kế toán đối với hoạt động mua bán, sáp nhập

8.9- Định giá doanh nghiệp

Chương 9: Nghiệp vụ nghiên cứu

9.1- Giới thiệu chung

9.2- Các sản phẩm nghiên cứu

9.3- Thực tiễn hoạt động nghiên cứu

9.4- Phân phối sản phẩm nghiên cứu

9.5- Bảo mật thông tin

9.6- Mâu thuẫn lợi ích đối với hoạt động nghiên cứu

Chương 10: Nghiệp vụ quản lý đầu tư

10.1- Giới thiệu chung

10.2- Quỹ đầu tư

10.3- Quỹ tương hỗ

10.4- Quỹ niêm yết

10.5- Quỹ tín thác đầu tư bất động sản

10.6- Cơ chế tài chính của quỹ đầu tư

10.7- Quản lý gia sản

Chương 11: Nghiệp vụ ngân hàng bán buôn

11.1- Giới thiệu chung

11.2- Đầu tư vốn tư nhân

11.3- Đầu tư vốn mạo hiểm

11.4- Mua doanh nghiệp bằng vốn vay (LBO)

11.5- Cho vay đồng tài trợ và tài trợ dự án

11.6- Đầu tư bất động sản

Chương 12: Nghiệp vụ nhà môi giới chính

12.1- Giới thiệu chung

12.2- Quỹ đầu cơ (hedge fund)

12.3- Quy trình hoạt động của quỹ đầu cơ

12.4- Dịch vụ nhà môi giới chính

12.5- Quy trình ký quỹ áp dụng với quỹ đầu cơ

Chương 13: Nghiệp vụ chứng khoán hóa

13.1- Khái niệm

13.2- Quy mô chứng khoán hóa

13.3- Quy trình chứng khoán hóa

13.4- Lợi ích và chi phí

13.5- Các loại sản phẩm chứng khoán hóa

13.6- Trái phiếu có danh mục cho vay thế chấp mua nhà làm tài sản đảm bảo (MBS)

13.7- Trái phiếu có các danh mục rủi ro tín dụng làm tài sản đảm bảo (CDO)

13.8- Chứng khoán hóa tín dụng dưới chuẩn

Chương 14: Sản phẩm phái sinh (I)

14.1- Giới thiệu chung

14.2- Các nhóm hợp đồng phái sinh

14.3- Hợp đồng kỳ hạn ngoại tệ

14.4- Hợp đồng kỳ hạn lãi suất

14.5- Hợp đồng hoán đổi hối đoái

14.6- Hợp đồng hoán đổi tiền tệ

14.7- Hợp đồng hoán đổi lãi suất (IRS)

14.8- Hợp đồng hoán đổi cổ phiếu

Chương 15: Sản phẩm phái sinh (II)

15.1- Hợp đồng tương lai

15.2- Hợp đồng quyền chọn

15.3- Phái sinh hàng hóa

15.4- Phái sinh rủi ro tín dụng

15.5- Hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng

15.6- Hợp đồng hoán đổi toàn bộ lợi ích (TRS)

15.7- Phái sinh thời tiết

Chương 16: Sáng tạo tài chính

16.1- Sáng tạo tài chính

16.2- Trái phiếu cơ cấu

16.3- Trái phiếu liên kết rủi ro lãi suất

16.4- Trái phiếu bảo vệ rủi ro lạm phát

16.5- Trái phiếu liên kết rủi ro ngoại hối

16.6- Trái phiếu liên kết rủi ro cổ phiếu

16.7- Trái phiếu liên kết rủi ro tín dụng

16.8- Trái phiếu lợi suất cao

Chương 17: Quản lý hoạt động và rủi ro trong ngân hàng đầu tư

17.1- Khung quản lý tài chính của ngân hàng đầu tư

17.2- Hệ thống chỉ số đánh giá hoạt động cơ bản

17.3- Quản lý kết quả kinh doanh

17.4- Khung quản lý nguồn vốn

17.5- Quản trị rủi ro

Chương 18: Khung pháp lý và đạo đức nghề nghiệp

18.1- Giới thiệu chung

18.2- Các quy định về phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp

18.3- Các quy định về trao đổi chứng khoán trên thị trường thứ cấp

18.4- Các quy định về công ty đầu tư và nhà tư vấn đầu tư

18.5- Đạo luật Sarbanes-Oxley 2002

18.6- Đạo đức nghề nghiệp

Chương 19: Cơ hội nghề nghiệp tại ngân hàng đầu tư

19.1- Giới thiệu chung

19.2- Tiêu chuẩn tuyển dụng

19.3- Cơ hội nghề nghiệp tại khối ngân hàng đầu tư (IBD)

19.4- Cơ hội nghề nghiệp tại khối đầu tư

19.5- Cơ hội nghề nghiệp tại khối quản lý đầu tư

19.6- Cơ hội nghề nghiệp tại khối nghiên cứu

19.7- Cơ hội nghề nghiệp tại bộ phận điều hành

19.8- Các bằng cấp chuyên môn

19.9- Thu nhập tại ngân hàng đầu tư

Chương 20: Xu hướng phát triển ngành ngân hàng đầu tư

20.1- Tự do hóa tài chính

20.2- Quá trình toàn cầu hóa

20.3- Các sản phẩm mới

20.4- Phát triển công nghệ thông tin

20.5- Các quy định pháp lý mới

20.6- Ngân hàng đầu tư và cuộc khủng hoảng tài chính

20.7- Tương lai ngành ngân hàng đầu tư toàn cầu

PHẦN 2 - THAM KHẢO

Chương 21: Tiềm năng ngân hàng đầu tư tại Việt Nam

21.1- Thị trường vốn Việt Nam

21.2- Dòng sản phẩm có thu nhập cố định

21.3- Dòng sản phẩm chứng khoán vốn

21.4- Dòng sản phẩm phái sinh và sản phẩm cơ cấu

21.5- Dịch vụ tư vấn ngân hàng đầu tư

21.6- Quản lý đầu tư

21.7- Nghiệp vụ nghiên cứu

21.8- Các ngân hàng đầu tư quốc tế tại Việt Nam

Chương 22: Niêm yết tại thị trường quốc tế

22.1- Giới thiệu chung

22.2- Cách thức niêm yết tại SGDCK quốc tế

22.3- Sở giao dịch chứng khoán Luân Đôn (LSE)

22.4- Sở giao dịch chứng khoán New York (NYSE)

22.5- Sở giao dịch chứng khoán Singapore (SGX)

PHẦN 3 - PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Danh sách tài liệu tham khảo

Phụ lục 2: Danh sách các thuật ngữ viết tắt

Phụ lục 3: Danh sách một số thuật ngữ ngân hàng đầu tư (Anh - Việt)

Phụ lục 4: Danh sách một số báo chí cập nhật ngân hàng đầu tư

Phụ lục 5: Danh sách các DNNN lớn của Việt Nam thực hiện cổ phần hóa giai đoạn 2007-2010


Nhận xét của VNEconomy:

Ngân hàng đầu tư là một định chế tài chính quan trọng của thị trường vốn tại các quốc gia phát triển. Nghiệp vụ truyền thống và cơ bản nhất của ngân hàng đầu tư là thực hiện vai trò kết nối các chủ thể thiếu vốn và các chủ thể thừa vốn trên thị trường vốn thông qua việc tư vấn, bảo lãnh phát hành các loại chứng khoán (bao gồm chứng khoán vốn và chứng khoán nợ).

Ngày nay, ngân hàng đầu tư tham gia vào nhiều loại hình nghiệp vụ đa dạng khác nhau trên thị trường vốn, bao gồm dịch vụ tư vấn ngân hàng đầu tư, môi giới, đầu tư, nghiên cứu, quản lý tài sản, ngân hàng bán buôn và các dịch vụ khác. Dịch vụ tư vấn ngân hàng đầu tư bao gồm tư vấn, bảo lãnh phát hành chứng khoán cũng như tư vấn mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A).

Tại Việt Nam, tuy ngân hàng đầu tư còn là một khái niệm mới mẻ, song đã xuất hiện một số công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ với các hoạt động phôi thai theo hướng các nghiệp vụ của ngân hàng đầu tư. Đồng thời, một số ngân hàng thương mại lớn cũng đang trong quá trình chuyển đổi sang mô hình tập đoàn tài chính, trong đó có chú trọng đẩy mạnh phát triển mảng ngân hàng đầu tư. Đây là sự phát triển tất yếu mà các nước phát triển đã trải qua và là một định hướng đúng của nền kinh tế.

Mặc dù vậy, các tài liệu và thông tin xuất bản nhằm giới thiệu, phân tích đầy đủ và khoa học về các nghiệp vụ, các dòng sản phẩm, mô hình quản lý và hoạt động cũng như kinh nghiệm trên thế giới trong lĩnh vực ngân hàng đầu tư hiện còn khá hạn chế tại Việt Nam.

Để đáp ứng nhu cầu thông tin của bạn đọc tìm hiểu về lĩnh vực này, Nhà xuất bản Thống kê vừa ra mắt bạn đọc cuốn “Cẩm nang ngân hàng đầu tư” của tác giả Mạc Quang Huy, một chuyên gia nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng đã nhiều năm công tác tại các ngân hàng đầu tư quốc tế lớn trên thế giới, là cộng tác viên quen thuộc với nhiều bài viết sâu sắc trên VnEconomy.

Cuốn sách 725 trang, được chia thành 22 chương, trình bày tương đối toàn diện mỗi lĩnh vực sản phẩm, nghiệp vụ và quản lý của ngân hàng đầu tư. Tác giả cũng đề cập đến một số khía cạnh quan trọng của cuộc khủng hoảng tài chính đương đại và ảnh hưởng của nó tới hiện tại cũng như tương lai phát triển của ngành ngân hàng đầu tư.

Các câu hỏi như nguyên nhân, gốc rễ và cách thức hình thành của một cuộc khủng hoảng tài chính là gì, vì sao các ngân hàng đầu tư thất bại nặng nề trong cuộc khủng hoảng tài chính, vì sao các ngân hàng đầu tư độc lập còn lại trên Phố Wall là Goldman Sachs va Morgan Stanley phải xin chuyển sàng mô hình ngân hàng đầu tư tổng hợp (universal bank) ngay sau khi Lehman Brothers sụp đổ (9/2008), xu hướng của ngành ngân hàng đầu tư trong tương lai như thế nào… được lần lượt trả lời trong cuốn sách này.

Bên cạnh đó, tác giả cũng dành một chương nghiên cứu về thực trạng thị trường vốn và tiềm năng phát triển ngành ngân hàng đầu tư tại Việt Nam...

Theo đánh giá của giới chuyên môn tại Việt Nam, đây là một tài liệu tham khảo hữu ích đối với các cán bộ quản lý và nhân viên chuyên nghiệp trong ngành tài chính Việt Nam, bao gồm các cơ quan chức năng, sở giao dịch chứng khoán, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm, các nhà đầu tư có tổ chức, các giám đốc tài chính doanh nghiệp muốn tìm hiểu về hoạt động và dịch vụ ngân hàng đầu tư quốc tế.

Cuốn sách cũng được viết như một cuốn sách giáo khoa cho các giảng viên, sinh viên khối kinh tế, tài chính, ngân hàng (khối đại học và sau đại học) bao gồm các trung tâm đào tạo chứng khoán trong nước, muốn tiếp cận các nghiệp vụ tài chính hiện đại. Các phóng viên, biên tập viên, nhà báo chuyên ngành tài chính và chứng khoán cũng sẽ tìm thấy những thông tin bổ ích từ cuốn sách này.

*Minh Đức

=> Đây là lần đầu tớ đánh giá về một cuốn sách có thể được liệt kê vào thể loại sách "chuyên ngành" hay "nghiệp vụ", vì vốn dĩ rất ngại nêu nhận xét các thể loại này, dễ gây nhiều phản ứng do kiến thức của bản thân không sâu rộng và không thể so sánh với các tác giả của thể loại này nên việc đánh giá hay nhận xét là vấn đề tớ không thích. Có điều, do cuốn này được tung hô trước khi phát hành nhiều quá nên sau khi đọc xong quyết định viết về nó.

Cuốn sách này được đầu tư một cách khá kỹ lưỡng. Trước hết là khâu giới thiệu, rất nhiều website tài chính và bài viết đề cập, đề cao, khen ngợi cuốn sách này. Rồi đến việc phát hành thì cũng chỉ chọn 2 nhà sách được phép bán. Rồi ngày phát hành được ấn định nhưng đến đó, tớ không thấy fahasa SG bày bán, phải hơn 2 tháng sau thì sách mới có trên kệ, chẳng hiểu nguyên nhân vì sao...vào lúc đó, các quầy sách hay bán chiết khấu cũng chưa thấy xuất hiện... Mãi đến cách đây 2 tháng (tháng 9/2009) thì mới được bán rộng rãi ở nhiều nhà sách..Phải có lời khen ngợi cho đội sale của sách này. Sách được trình bày bìa và giấy khá đẹp và độ dày bằng cuốn từ điển (nội dung cũng gần như từ điển).

Về mặt nội dung thì cuốn sách đáp ứng được mục đích ban đầu theo ý tác giả (tớ nghĩ vậy!) đó là trình bày bản chất của ngân hàng đầu tư, cách thức tổ chức hoạt động, các nhóm sản phẩm và nghiệp vụ chính của ngân hàng đầu tư, cách thức quản lý haọt động và rủi ro và cuối cùng là đáp ứng được mục đích: không trình bày quá sâu về từng loại nghiệp vụ cụ thể của ngân hàng đầu tư. Chính vì các tiêu chí đề ra như vậy, khi đọc cuốn sách này, những người đã từng đọc, học, nghiên cứu về các nghiệp vụ nêu trong sách bằng tiếng anh thì cuốn sách như một bản dịch tốt để hệ thống lại các khái niệm, kiến thức tổng quát của các nghiệp vụ; còn đối với những người mới tiếp cận phân tích tài chính thì sách này giúp cho người đọc có cái nhìn tổng quát các nghiệp vụ và hiểu hơn về khái niệm. Tôi thấy về mặt nghiệp vụ thì đa phần sách được trình bày khá sát theo hệ thống của chương trình CFA về mặt khái niệm các nghiệp vụ (chưa đọc 2 cuốn "The business of Investment Banking" và "Vault Career Guide to investment banking" nên không rõ nội dung của sách này có theo 2 cuốn vừa nói không nữa!). Và một cái hay của sách này nữa là thường có những liên hệ đến tình hình của nghiệp vụ đó ở Việt Nam khiến cho người đọc trong nước có cảm giác gần gũi chứ không đơn thuần chỉ tập hợp và dịch từ các sách nước ngoài.

Tuy nhiên, tớ chỉ có nhận xét là khi sách đề cập về chương trình CFA thì chỉ ghi là “theo CFA” hoặc là “của CFA” nhưng thiết nghĩ nếu đúng thì phải là “theo Hiệp hội CFA” hoặc “theo/của chương trình CFA” (standard VII B of Professional conduct). Có thể tác giả không là hội viên nên việc đề cập như vậy không là vấn đề.

Dưới đây là một số tài liệu tham khảo trích theo mục lục của tác giá:
1. K. Thomas Lia. The business of Investment Banking, 2005. John Wiley & Son, Inc
2. Vault Career Guide to investment banking, 2005 (download)
3. Harold Bierman JR. Private Equity, 2003. John Wiley & Son, Inc (download)
4. Philippe Jorion. Financial Risk Manager Handbook. John Wiley & Son, Inc (download)
11. Mergers and Acquisitions, 2005. Hiệp hội ngân hàng anh quốc
12. Wealth Management in Switzerland, 2007. Hiệp hội ngân hàng thụy sỹ
16. Vietnam capital market roadmap, 2003. ADB
17. Asia pacific M&A Bulletin (2007, 2008). PWC Việt Nam (download)

Thursday, October 29, 2009

Đại khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 - Dưới con mắt của các nhà báo và các chuyên gia kinh tế quốc tế



Nguyễn Văn Nhã tổng hợp và biên dịch
Nxb Tri thức
----------

Nội dung sách hầu hết là các bài báo, nhận xé, bài viết của một số chuyên gia knh tế, đa phần là được tập hợp từ Globe and Mail và La Presse, rất ít thấy nguồn dữ liệu khác.
Các bài báo được sắp xếp theo từng chủ đề, theo chuỗi thời gian để tiện việc theo dõi. Tuy nhiên, hầu hết là các bài viết ngắn nên không có sự phân tích sâu, những gì đọng lại sau khi đọc xong từng bài, thậm chí là cả cuốn là rất ít.
Tất nhiên, vẫn có những bài hay, cung cấp thông tin hữu ích như bài "Chi tiêu Nhà nước không dễ dàng" (trang 308).
Vẫn còn một số lỗi ghi chú của tiếng anh chưa đúng hoặc dịch thuật ngữ không dùng từ kinh tế thông dụng. Ví dụ: từ "thanh khoản" không thể đơn giản là "tài khoản thanh toán" (trang 20).
Tóm lại, mức độ thoả mãn khi đọc xong không cao, thậm chí thấp hơn kỳ vọng

Sunday, October 4, 2009

Tư Duy Kinh Tế Việt Nam 1975 - 1989 (Nhật Ký Thời Bao Cấp)

Tư Duy Kinh Tế Việt Nam 1975 - 1989 (Nhật Ký Thời Bao Cấp)
Tác giả: Đặng Phong.
Nhà xuất bản: Nxb Tri Thức

Ngày xuất bản: 08 - 2008


Tái bản có bổ sung (quý II 2009)



Theo Tuần Việt Nam

Bâng khuâng cùng "Nhật ký thời bao cấp"
(Thứ sáu, 28/11/2008 08:40:46 AM)

Khác với chiến tranh, thời bao cấp chỉ mới kết thúc cách đây chưa đầy hai thập niên, và hàng triệu nhân chứng của nó hiện giờ vẫn còn sống. Vẫn sống và vẫn nhớ như in những gì gắn với nó: con người, sự kiện, thói quen, hành vi, lời ăn tiếng nói; vô số chuyện cười, ca dao, tục ngữ, phim ảnh, bao nhiêu bi kịch, nước mắt, nụ cười… Tất cả đã tạo nên cả một nền văn hóa và là nguồn cảm hứng lớn cho nghệ thuật.

Đã có những bộ phim nổi tiếng: Chuyến xe bão táp, Hà Nội mùa chim làm tổ. Có những vở kịch của Lưu Quang Vũ: Tôi và chúng ta, Tin ở hoa hồng.

Có những bài ca mà giờ đây nghe hát lên, ai đã từng sống qua thời kỳ cả nước xếp hàng cũng thấy rạo rực "tinh thần bao cấp": Mùa xuân từ những giếng dầu, Bến cảng quê hương tôi…

Nhưng đó là những tác phẩm ra đời trong thời bao cấp. Còn các tác phẩm của "người bây giờ" viết về những năm tháng ấy thì nhìn chung chưa đủ sức phản ánh được một cách đầy đủ và chân thực cả một giai đoạn trong lịch sử đất nước. Ít nhất cũng chưa có cuốn sách nào đủ để làm người đọc phải bồi hồi cảm xúc khi đọc và nhớ lại một thời đã qua.

Xét ở khía cạnh đó, Tư duy kinh tế Việt Nam: Chặng đường gian nan và ngoạn mục 1975 - 1989 của Giáo sư Đặng Phong là một cuốn sách hay. Vì đó là cuốn sách phản ánh thời bao cấp một cách đầy đủ nhất từ trước đến nay, trên phương diện kinh tế.

Khách quan và khoa học

Cuốn “nhật ký” của Giáo sư lịch sử kinh tế Đặng Phong chia thời bao cấp thành ba giai đoạn: 1975 - 1979, 1979 - 1986, và 1986 - 1989, và bám sát theo từng chuyển biến, thay đổi của nền kinh tế trong ba giai đoạn đó.

Viết một cuốn sách lịch sử phải đảm bảo các tiêu chí chính xác, khách quan, khoa học. Tư duy kinh tế Việt Nam đã hướng tới đáp ứng những đòi hỏi đó, ở chỗ nó cung cấp rất nhiều thông tin và kiến thức lịch sử kinh tế.

Với nhiều bạn đọc, có thể nhờ cuốn sách này, lần đầu tiên bạn sẽ được biết về những giai đoạn cũng khá dầu sôi lửa bỏng đối với đất nước, như những năm ngay sau ngày thống nhất 30/4.

Đó là giai đoạn mà chúng ta "say sưa với thắng lợi", muốn "nhanh chóng thực hiện nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa", nên đã tiến hành cả ba cuộc cách mạng: khoa học kỹ thuật, văn hóa tư tưởng, quan hệ sản xuất.

Những cơ sở kinh tế ở miền Nam cũ bị xóa bỏ, tịch thu, quốc hữu hóa, người dân bị đưa đi vùng kinh tế mới để học tập thông qua lao động. Điều đó, như tác giả viết, đã đẩy hai triệu người vào con đường bất đắc dĩ: vượt biên!

Đó cũng là giai đoạn mà chúng ta tiếp quản cả một đất nước - một nền kinh tế, trong tình trạng thiếu kiến thức về quản lý và tư duy kinh tế thì còn khá ấu trĩ. Chính điều đó đã dẫn tới cuộc khủng hoảng kinh tế nặng nề về sau này, được tác giả phản ánh rất đầy đủ:

"Nông dân vẫn là tầng lớp khó khăn nhất. Năm 1977, trong dịp Tổng Bí thư đi thăm tỉnh Hà Nam Ninh, có hứa rằng chỉ vài năm nữa thì mọi nhà nông dân đều có TV, tủ lạnh…, thì bây giờ miếng cơm ăn cũng không có đủ, nhiều vùng đói to".

Bạn đọc cũng sẽ được chứng kiến, qua lời kể của hàng chục nhân chứng, những bi kịch thật sự của người dân. Ông Tư Tâm, Bí thư Tỉnh ủy Long An, kể lại về phong trào đưa dân đi vùng kinh tế mới: "Mỗi người được cấp một lô đất. Nhưng nhìn ra chỉ thấy cỏ mọc dày đặc. Máy ủi, máy cày không có. Phải cuốc bằng tay, chặt bằng dao. Làm sao họ sản xuất được? Có một ông người Hoa nhìn tôi rưng rức nước mắt và kêu trời: Tôi là giống người, tôi không phải giống trâu bò, tôi không ăn cỏ được!…"

Để đảm bảo tính khách quan và chính xác của thông tin, tác giả đã gặp và phỏng vấn hàng chục nhân vật như ông Tư Tâm, trong đó đặc biệt là những người đã từng làm việc gần gũi các cán bộ lãnh đạo - như ông Trần Việt Phương, nguyên trợ lý của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn; hoặc những gương mặt đóng vai trò quan trọng trong “cuộc chiến” đổi mới mà nổi lên là Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt. (Cuốn sách này cũng được tác giả trân trọng đề tặng: Để tưởng nhớ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt).

Dễ dàng nhận thấy mọi chuyển biến của nền kinh tế đất nước đều gắn chặt với những quyết định của các nhà lãnh đạo, được thể hiện ra thành những chủ trương chính sách của chính phủ. Bởi thế, nói là lịch sử thời bao cấp, nhưng cuốn sách thực chất ghi lại lịch sử chuyển biến tư duy kinh tế của những người điều hành đất nước.

Nhờ cuốn sách này, bạn đọc sẽ được biết cả thời kỳ "đấu tranh" giữa hai đường lối tư duy: bảo thủ và đổi mới. Bạn sẽ thấy rằng sự ra đời của cái mới cần sự quyết tâm, lòng can đảm và thậm chí, cả một chút may mắn đến từ thời cuộc. Tóm lại, cái mới cũng đòi hỏi sự trả giá.

Những trang viết lịch sử kinh tế đầy cảm xúc

Viết về lịch sử, mà lại là lịch sử kinh tế, tác giả rất dễ sa vào khuynh hướng kể lể, tầm chương trích cú, trình bày bảng biểu số liệu, hồ sơ cả tập, vừa khô cứng vừa… dễ thành nhàm chán.

Nhưng với Tư duy kinh tế Việt Nam thì khác. Giáo sư Đặng Phong, ngoài việc đưa vào những phát biểu, hồi tưởng chân thật của các nhân vật lịch sử, còn trích cả nhiều bài báo, tranh châm biếm cùng thời kỳ đó (từng đăng trên những báo Văn Nghệ, Lao Động, Đại Đoàn Kết v.v.).

Điều đó đã làm nên sự nhẹ nhàng cho cuốn sách, cũng là phong cách riêng trong cách viết sử của Đặng Phong.

Là một cuốn sách khoa học xã hội, nhưng - với văn phong của tác giả - Tư duy kinh tế Việt Nam cũng chứa đựng nhiều cảm xúc. Như là thái độ điềm tĩnh và xây dựng của Giáo sư Đặng Phong khi nói về những sai lầm mà giới lãnh đạo - do bị những giáo điều ngăn chặn tầm nhìn - đã mắc phải khi chuyển từ quản lý đất nước thời chiến sang quản lý kinh tế trong thời bình.

Như là sự cổ vũ cho những quyết tâm đổi mới, dựa trên kiến thức và tư duy khoa học; sự cổ vũ cho tinh thần ham học hỏi, dám nghĩ dám làm dám chịu trách nhiệm. Và, nổi lên trên tất cả, chúng ta có thể cảm nhận tình yêu nước của chính tác giả.

Nhưng quan trọng hơn, cuốn sách mang lại cảm xúc cho độc giả. Người đọc như cảm thấy bầu không khí ngột ngạt của "đêm trước đổi mới", như sống lại những năm tháng đen tối của khủng hoảng kinh tế, như được chứng kiến sự gay go và phức tạp của cuộc đấu tranh giữa hai đường lối cho đến khi cả nước thống nhất một tư tưởng: Đổi mới hay là chết?

Dĩ nhiên, cuốn sách không xao nhãng mục đích cao nhất là cung cấp kiến thức, nên có đầy đủ cả biên niên sử các sự kiện kinh tế cùng rất nhiều số liệu thống kê để thỏa mãn nhu cầu tra cứu của độc giả.

Nếu ở tác phẩm đồ sộ và công phu này có gì gọi là nhược điểm, thì đó là một cảm giác mơ hồ mà nó tạo ra cho người đọc: Dường như tác giả vẫn còn có những điều chưa nói hết, những chỗ phải bỏ qua hoặc tìm một cách nói giảm, nói tránh sự thật. Có thể đó cũng chỉ là một cảm giác mà chính cách viết nhẹ nhàng và điềm tĩnh của Giáo sư Đặng Phong đã mang tới.

Nhưng cho dù có thế, những gì cuốn sách mang lại vẫn là quá nhiều, quá đầy đủ so với tất cả những tài liệu về lịch sử kinh tế mà người đọc chúng ta từng tiếp cận kể từ năm 1975 đến nay.

Đoan Trang

Theo Báo Thể Thao & Văn Hoá
Con đường vòng vật vã
(Thứ tư, 22/10/2008 08:23:56 AM)

Cầm cuốn sách ngót 400 trang của Đặng Phong đã thấy ngại, trong khi xung quanh mình đầy ắp các kênh thông tin khác nhau. Thời gian mà Thượng đế ban tặng cho lại chỉ đúng có 24 giờ mỗi ngày, không hề nhiều hơn người khác.

Rồi tên sách nhấn mạnh vấn đề “tư duy kinh tế”, dường như hơi viển vông và xa xỉ so với thời buổi hàm lượng tính thực dụng ngày càng cao... Tôi định xem lướt, ghi nhớ những gì cơ bản trong nội dung với hy vọng khai thác tư liệu cho các bài viết sau này. Thế nhưng, sự hấp dẫn của cuốn sách đã khiến tôi không thể dứt ra được và đọc luôn một mạch.

Nhân vật ấn tượng nhất: Trường Chinh

Là một nhà báo kinh tế lâu năm, từ năm 1976, được chứng kiến một nền kinh tế hoang tàn sau chiến tranh, chứng kiến cuộc trở dạ vật vã hàng chục năm để ra đời công cuộc đổi mới, trong lòng tôi luôn có một điều trăn trở rằng một thời kỳ lịch sử đặc biệt của dân tộc, với những cung bậc thăng trầm tưởng như vượt quá sức chịu đựng của con người, liệu có được ai đó làm “Quan ngự sử” để ghi lại làm bài học cho con cháu mai sau?

Thật quý giá và đáng trân trọng tất cả những tư liệu lịch sử và những đánh giá của tác giả về những sự kiện, những nhân vật trong cuốn sách này. Đã hơn 10 năm sau cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại và thống nhất đất nước, các nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam không thể đành tâm nhìn những người dân thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu đủ mọi hàng hoá thiết yếu, tư liệu sản xuất… trong một nền kinh tế bao cấp khổng lồ hiếm có trên thế giới. Sai lầm bắt đầu từ đâu? Làm thế nào để sửa được nó? Thế là cuộc vật lộn trong tư duy ngay trong những nhà lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng và Nhà nước đã được tác giả ghi chép một cách khoa học, bình luận trên một nền tư duy của một nhà khoa học. Chỉ qua những dẫn chứng lịch sử kinh tế trong giai đoạn 1975-1989, người đọc có thể thấy được chân dung của nhiều nhà lãnh đạo như Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh, Võ Chí Công, Võ Văn Kiệt…, các cán bộ cao cấp tầm cỡ như Trần Phương, Nguyễn Ngọc Trìu, Ngô Duy Đông, Hoàng Hữu Nhân…, rồi các nhà kinh tế chiến lược như Đào Xuân Sâm, Trần Việt Phương, Hà Nghiệp, Lê Văn Viện, Võ Đại Lược… Để thay đổi tư duy kinh tế cho hệ thống chính trị của một đất nước không hề dễ dàng, mà dõi theo nội dung cuốn sách, tôi cảm giác nó ly kỳ và hấp dẫn đến nghẹt thở. Ở những nơi tôn nghiêm vào loại bậc nhất đất nước, chỉ sơ sảy một chút là có thể “thân bại danh liệt”, nhưng cuộc đấu tranh giữa tư duy cũ và mới vẫn xảy ra quyết liệt. Gay gắt có, mềm mỏng có, nhân nhượng có, sai lầm có, sửa sai có, đề bạt có, miễn nhiệm có, oan ức có…với những tư liệu thuyết phục.

Đọc xong cuốn sách, nhân vật ấn tượng nhất trong tôi lại là cố Tổng bí thư Trường Chinh. Ông là một trong những người lãnh đạo có trình độ học vấn cao và có phong cách lãnh đạo điềm đạm, chuẩn mực. Phương pháp tư duy và làm việc của ông là một phương pháp có bài bản. “Do đó đã có lúc ông xa rời thực tiễn của cuộc sống, dẫn tới những sai lầm nặng nề như trong cải cách ruộng đất, thời kỳ 1953 - 1956, trong việc phê phán cơ chế khoán ở Vĩnh Phúc năm 1968”. Đọc đến đây, tôi ngỡ tưởng rằng những con người có tư tưởng “tả khuynh” như vậy khó có thể là trung tâm của công cuộc đổi mới sau này. Thế nhưng tôi đã lầm hoàn toàn. Những tư liệu lịch sử trong cuốn sách đã chứng minh rằng Trường Chinh chính là người khởi xướng mãnh liệt nhất, kiên định nhất cho công cuộc đổi mới vĩ đại này. Sự hấp dẫn của cuốn sách một phần quan trọng là ở đây, bởi để một vị lãnh đạo cao nhất đất nước thay đổi tư duy thì phải có biết bao công sức của bộ máy giúp việc và sự trả giá cao của thực tiễn. Ông Mai Chí Thọ, lúc đó là Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh, viết: “Sau đợt đi kiểm tra tình hình thực tế ở một số địa phương và thành phố HCM, đồng chí Trường Chinh đã phát biểu: “Trước đây tôi đã nghe nhiều báo cáo sai lầm, không đúng thực tế”. Anh đã quay “một trăm tám chục độ” và đã tạo nên một bước ngoặt lịch sử cho cách mạng Việt Nam”.

Từ quan niệm ngoại kiều là “đạn bọc đường”…

Một ấn tượng nữa trong tôi là cuốn sách này, qua các tư liệu lịch sử, đã vẽ rất rõ nét một con đường vòng trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, tạo ra một sự lãng phí khủng khiếp trong việc khai thác các nguồn lực để phát triển. Trong nông nghiệp, khẩu hiệu “Người cày có ruộng” ban đầu được dẫn theo con đường Tổ đổi công, rồi HTX cấp thấp, HTX cấp cao, rồi khoán 100, rồi khoán 10 để trở lại đúng bản chất kinh tế của việc “Người cày có ruộng” cách đấy mấy chục năm. Về công nghiệp, từ tư bản dân tộc tiến lên công tư hợp doanh, sang công nghiệp quốc doanh rồi quay trở lai cổ phần hoá, cho phép phát triển kinh tế tư bản tư nhân, đầu tư nước ngoài, rồi Đảng viên được làm kinh tế tư nhân. Trong phân phối-lưu thông, từ chỗ Nhà nước nắm từ cây kim, sợi chỉ, lạng đỗ xanh, tấm lá giong giềng, quần áo, gạo, mỳ…cho đến khi không thể kham nổi, phải trao cho thị trường điều tiết. Con đường vòng ấy đã mất vài chục năm vật vã. Từ chỗ quan niệm việc gửi tiền, gửi hàng của bà con Việt kiều cho những người thân thích ở trong nước là những “viên đạn bọc đường”, đến nay, khi được coi đây là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng trong quá trình phát triển cũng tiêu tốn mất ngót nửa thế kỷ…Cái đáng quý của cuốn sách là ở chỗ do vẽ được con đường vòng mà nền kinh tế đất nước trải qua, đã chỉ ra con đường ngắn nhất để xây dựng đất nước Việt Nam phồn vinh, mà cho đến giờ này, còn nhiều quyết sách kinh tế của đất nước dường như vẫn phải đi vòng.

Sẽ là có lỗi nếu không có đôi lời giới thiệu về tác giả cuốn sách. Ông sinh năm 1939 tại Hà Tây, tốt nghiệp Khoa lịch sử ĐH Hà Nội năm 1960, ĐH kinh tế quốc dân 1964, nguyên Uỷ viên Hội đồng khoa học, trưởng phòng lịch sử kinh tế Viện Kinh tế Việt Nam, PTBT Tạp chí Thị trường - Giá cả… Ông từng tham gia nhiều đề tài khoa học cấp quốc gia về lĩnh vực kinh tế và được nhiều trường đại học và viện nghiên cứu nước ngoài mời thỉnh giảng. Ông tâm sự: “Lịch sử thời kỳ đổi mới không phải là và không thể là chặng đường chỉ toàn những thành tích và thắng lợi. Nó là một chặng đường đầy những thử nghiệm và khai phá gian nan, đầy những khó khăn, vấp váp, trong đó có cả những sai lầm, thất bại, rồi chính từ đó mới bật ra những bước sáng tạo, bứt phá”.

Tôi rất đồng tình với ông. Chính vì thế, bản thân những vật vã trên chặng đường gian nan ấy đã tạo nên sự cuốn hút của cuốn sách này.

Nguyễn Hoàng Linh

Mục lục:

Lời nói đầu

Nhập đề - những think tank xưa và nay

Chương 1: Giai đoạn 1975 – 1979

Tình hình kinh tế cả nước sau 1975

Tư duy kinh tế

Đường lối kinh tế

Chương 2: Giai đoạn 1979 – 1986

Tình hình kinh tế những năm 1979 – 1980

Tư duy kinh tế những năm 1979 – 1980

Bước đột phá đầu tiên về quan điểm kinh tế

Những đột phá ở cơ sở

Những chuyển biến đầu tiên về chính sách

Những khởi sắc trong đời sống kinh tế

Lập lại trật tự - bước lùi về tư duy 1983 – 1984

Những bứt phá về tư duy các năm 1984 – 1985 – vai trò lịch sử của Trường Chinh

Chương 3: Giai đoạn 1986 – 1989

Vòng xoáy 1986

Trường Chinh và việc chuẩn bị báo cáo chính trị cho đại hội Đảng lần thứ VI

Những nội dung chính của báo cáo chính trị

Đại hội Đảng lần thứ VI

Hai năm chuyển mình gian nan: 1987 – 1988

Những chuyển biến quan trọng trong chính sách kinh tế

Bước ngoặt 1989

Kết luận

Biên niên các sự kiện kinh tế

Tài liệu tham khảo

Bảng chỉ mục.


=> Sách được xuất bản bởi quyết định đột ngột để tưởng nhớ nguyên Thủ Tướng Chính Phủ - Võ Văn Kiệt, người được nhắc đến nhiều nhất, có công lao to lớn đối với sự nghiệp đổi mới tư duy kinh tế Việt nam. Tuy nhiên, sau khi đọc xong tác phẩm, tôi vẫn chưa thấy được hình ảnh về những đóng góp của nguyên Thủ Tướng Chính Phủ - Võ Văn Kiệt vẫn chưa được phác hoạ rõ ràng trong cả 3 giai đoạn được trình bày trong sách. Có thể những đóng góp này được tác giả nghiên cứu trong 2 giai đoạn sau trong công trình nghiên cứu của tác giả (giai đoạn 1990-1996 và 1997-2005).
Ngoài ra, đây cũng là cuốn sách việt nam đầu tiên tôi đọc có phần chỉ mục.
Tuy nhiên, tôi vẫn băn khoăn 1 điều, nếu như chưa có "cái tang lớn" và không có ý nghĩ đột xuất ấy thì phải chăng tác phẩm này vẫn chỉ là 1 công trình nghiên cứu để cho những người đa phần đã trải qua thời kỳ này đọc, chứ những người dân bình thường như tôi sẽ không có cơ hội tiếp xúc những nghiên cứu như vậy?

Sunday, September 27, 2009

Ngoài Vùng Lịch Sự


Ngoài Vùng Lịch Sự
Tác giả: Nguyễn Phương Thảo.
Nhà xuất bản: Nxb Văn Nghệ TP.HCM

Giới thiệu về nội dung
“Những điều tôi viết ra trong quyển sách này cũng là những điều mà tất cả các bạn đã từng thấy đâu đó trong cuộc sống của mình; những lần đi siêu thị, đi nhà sách, đi khám bệnh, đi ăn cưới, đi bát phố, đi du lịch… Tôi chỉ dụng công hơn các bạn ở chỗ tôi đã chịu khó tò mò quan sát, tẩn mẩn ghi chép lại và hả hê viết chúng ra như một cách xả stress, xả những bực bội vì những điều chướng mắt, những điều làm phiền hà, thậm chí là hành hạ chúng ta…

Có thể nhiều bạn sẽ nhăn mặt khi đọc những đoạn văn đầy chua cay, đầy mỉa mai khi tôi tập trung lôi một thối xấu nào đó ra, phóng đại nó dưới lăng kính của tôi và rỉa rói nó, từ thói quan liêu hống hách của những cán bộ tiếp dân ở các cơ quan công quyền (“Tiếp dân hay táp dân?!”), cho đến sự ích kỷ nhỏ nhen của những người hàng xóm đang sống cạnh chúng ta (“Những hàng xóm “trời ơi”…”). Thậm chí có bạn sẽ bảo: “Viết gì mà ác thế, chuyện bé xé ra cho to!”. Vâng, quả là những điều tôi kể trong sách đều bé, bé đến mức nhiều người trong chúng ta có thể lắc đầu rồi phẩy tay bỏ qua… Nhưng nếu tất cả chúng ta đề cho qua dễ dàng như thế, những đều be bé ấy sẽ được tiếp thêm dinh dưỡng để mà phình to ra từ từ đấy ạ. Thành ra, do cương quyết không chịu bỏ qua, tôi đã có cuốn sách nhỏ này.

Mong các bạn tiếp nhận cuốn sách của tôi, đọc nó - toàn những điều đã làm tôi và các bạn nhăn nhó - và … cười. Cười vào mỗi thói hư tật xấu, đó là chúng ta đã giương cung và bắn một mũi tên trúng vào nó đấy - Tác giả Nguyễn Phương Thảo.

Mục lục:

Đôi lời cùng bạn đọc

Ê mặt chuyện ngoài đường

Chữa bệnh cho bệnh viện

Những hàng xóm “trời ơi”

Kẹt xe, nghẽn văn hoá

… Ngoài vùng lịch sự

Tiếp dân hay tán dân?!

Chữ ăn cũng có mấy đường

Đừng tra tấn khách hàng bằng … quảng cáo!

Khuyến mãi, khóc ra tiếng gì?

Văn hoá “cơm hàng cháo chợ”!

Một lần chữa cháy

Chuyện một khu phố văn hoá

Văn hoá ATM: cần… bảo trì gấp!

“Trai Việt-index” còn bao nhiêu điểm?

“Gái Việt-index” còn bao nhiêu điểm?

Chung cư văn hoá ăn Tết!

Những căn bệnh của diễn văn

Thượng đế cũng bị… đày

Khi “mẹ ghẻ” phát rồ vì “con chồng”!

Tất cả vì Si-gem!

Những “vấn nạn” của đám cưới!

Du lịch nhưng thất… lịch!

Bờ-lốc “dơ”

Hiệu đính gấp văn hoá nhà sách!

Nỗi buồn buýt buýt

Những đồng nghiệp… mắm tôm!

Học chạy sao bằng học chen

Kinh khiếp… hội chợ!

=> sách đọc cũng vui và cũng "nhột nhột"
* Trích nội dung bài "Hiệu đính gấp văn hoá nhà sách!"
Nhà Sách, một ngôi nhà chứa đựng văn hoá và tri thức nhân loại. Nói theo ngôn ngữ dân gian thì đấy là chốn “hơi bị sang”. Nhưng có đi mới biết, nhiều chuyện chướng tai gai mắt vẫn phơi phóng công khai ở nơi này. Vì nhiều người lui tới nhà sách chả biết có nạp được tí lịch lãm nào không, lại thải ra vô số rác văn hoá làm ô nhiễm bầu không khí nơi đây!

Điều đáng buồn cười là nhiều khi chính những người đang tìm kiếm những kiến thức văn hoá để cho vào đầu thì lại có những hành động vô cùng mất văn hoá. Một anh chàng kính cận đậu mũi, nhìn cũng hình dong chải chuốt áo quần bảnh bao đứng đọc một cuốn “Hạt giống tâm hồn” ở kệ sách “Học làm người”. Đang đọc hứng thú thì vướng phải một trang sách chưa rọc, thế là chàng ta cáu tiết để sách xuống kệ, hành động y như trong phim võ hiệp Hồng Kông, dùng tay thay dao xé “roạc” một phát nghe ê cả răng! Sách thì bị thương còn “hạt giống”nọ gieo nhằm vào đất “tâm hồn” hoá. . . thạch nên cũng toi cơm!

Một số anh chị láu táu nhìn vào thì biết ngay là đương kim xì-tin, vừa đứng lật sách vừa nhóp nhép sing-gum trông rất sành điệu. Nhưng “pờ-rồ” hơn là cái kiểu nghếch mặt sang một bên, mắt vẫn không rời trang sách, chẩu môi phẹt một phát ghim ngay miếng bã sing-gum xuống sàn nhà hoặc góc kệ hàng. Nhiều khách hàng thư sinh khác lại có cái thói lấy sách đọc xong thì không để lại chỗ cũ, vứt nó nằm tênh hênh ngả ngớn, rồi lại lấy cuốn khác đọc, mặc xác cho đứa nào muốn xếp thì xếp! Chỉ cần vài anh đứng ngâm cứu dăm đầu sách là đã tanh bành té bẹ cái kệ sách con nhà người ta! Các cậu gà trống choai kéo băng kéo nhóm vào nhà sách lại có cái khoản táy máy, to mồm. Các cậu thăm thú các nơi rồi tụm lại ở kệ tạp chí thời trang, vừa đọc vừa hô hố bình phẩm những lời nghe rất bẩn tai về vòng 1 cô này, vòng 3 cô kia, chưa kể là ngứa tay vẽ vời nhăng nhít vào sách…

Có em gái nọ, nhân viên nhà sách đã trả lời “Nhật ký công chúa” hết hàng, em vẫn không tin, người ta vừa quay đi thì lập tức em chổng mông cúi xuống các ngăn sách cuối cùng (thường để sách dự trữ) để kiểm tra. Anh giai nào thấy em mặt mày nhăn nhó, mồm lầm bầm chửi rủa cô gái nọ thì cũng nghĩ em nên tìm Nhật ký… phù thuỷ thì thích hợp hơn cả? Sách mà em lấy cả chân để khoèo ra, rồi hùng hục bươi móc cứ như chọn khoai lang, khoai mì ngoài chợ thì quả là quá khiếp!

Lại có nhiều người chọn lựa chán chê cả mới sách nhưng trên đường ra quầy tính tiền thì sinh ra phân vân lưỡng lự, và cuối cùng là thảy đại mớ sách vào đâu đó cho rảnh nợ. Nếu may mắn thì mớ sách ấy sẽ được đoàn tụ với bà con họ hàng nhà sách tuy lắm lúc xét về đường phả hệ cũng có tức tưởi oan trái một chút. Như vợ chồng nhà bác Bill cựu tổng thống bên Mỹ danh giá là thế lại bị ném vào kệ kỹ thuật chăn nuôi phối giống heo bò dê ngựa gì đấy… Nhưng như thế vẫn còn may mắn chán! Vì nếu xui xẻo thì cũng có thể bị một quý cô dấm dúi vào một xó không những lạc loài mà còn phản văn hoá trầm trọng, như lọt vào đống… đồ lót bát nháo những dây với nhợ, hoặc kệ lủ khủ chai lọ tương cà mắm muối chẳng hạn (vì nhiều nhà sách thường nảy ra thêm khu vực bán đồ tạp phẩm tự chọn để tăng doanh thu). Trường hợp dã man hơn, nhiều khi bịch cá ba sa tẩm cà ri đông lạnh, nước nôi nhen nháo cũng tót lên nằm chung với các em sách khô ráo thơm tho, do bà nội trợ nào đấy tiện tay thảy vào vì không muốn mắc công đi trả hàng về chỗ cũ!

Nhiều bà mẹ đem con vào nhà sách với phương châm coi nhà sách như nhà…mình, có nghĩa đây là môi trường chăn thả tự do, “chúng mày phá được cái gì thì cứ phá!”. Ở những khu bán đồ lắp ráp, xếp hình, búp bê… các kệ hàng luôn trong tình trạng tơi bời hoa lá, vì thường xuyên là cảnh các mẹ lơ đễnh nhìn ngắm vu vơ khắp nơi để con tha hồ “làm giặc”; hoặc cả mẹ lẫn con hăm hở… khai quật tứ tung các kệ hàng, vứt bừa ra sàn các món không thích cho đến khi tìm được món ưng ý mới thôi. Có những bà mẹ cho con tự do xé bao bì, lấy hàng ra chơi chán chê rồi quăng lại. Thậm chí khi bị hư, gãy thì dúi món đồ chơi vào một xó nào đấy để phi tang…

Bà mẹ trẻ nọ mải mê dừng ở khu vực sách “Học cách làm mẹ”, lo coi sách quên cả coi con, để rồi khi bị nhân viên nhà sách mắng vốn vì trẻ làm hư đồ chơi thì tiến hành công tác giáo dục tư tưởng ngay tại chỗ bằng cách bợp cho thằng nhóc mấy phát… Tiếng mẹ hét, tiếng con gào, tiếng nhạc rền rĩ nghe cứ như xem lai-sô ban nhạc rạp nào đấy ngay trong nhà sách! Nhiều bà mẹ lại rất “năng động sáng tạo” khi dỗ con bằng cách khai thác “nguồn tài nguyên” tại chỗ: thằng nhóc đang ngoác mồm mũi dãi lòng thòng thì vơ ngay một con thú nhồi bông gần đấy cho thằng nhóc vần vò nặn vọt gặm nhấm chán chê rồi phũ phàng quăng đâu đó trên đường ra tính tiền. Chỉ tội cho ai mua con thú bông đấy vì có không ít nước dãi lẫn nước mũi tẩm đầy trong ấy!

Ở nhiều nhà sách, khu vực sách nông nghiệp, kỹ thuật, tôn giáo chính là… vùng sâu vùng xa nhưng lại thường được các đôi “uyên ương nhà sách” chiếu cố tới. Theo đúng kiểu “sống là không chờ đợi” nên có rất nhiều anh chị loi choi tranh thủ chọn những góc này để… xen canh, vừa giở sách lại vừa… lật nhau. Các đôi uyên ương cứ thế mà rúc rích tâm tình, hôn hít sờ soạng nháo nhác trước mặt thiên hạ lẫn trẻ nhỏ!

Vào những đợt hội sách, giảm giá sách, có sách “hot” mới về…thì những tiết mục thường xảy ra ở chợ cá-màn xô đẩy chen lấn, giành giựt, la lối… vốn chỉ có ở các bà hàng tôm hàng cá với nhau thì nay áp vào cả những khách hàng có vẻ nho nhã đến nhà sách.
Văn hoá như thế trong nhà sách thì kinh hãi lắm thay!

Sunday, July 26, 2009

Truy Tìm Căn Nguyên Tăng Trưởng


Truy Tìm Căn Nguyên Tăng Trưởng
Tác giả: William Easterly. - Dịch giả: Nhiều Tác Giả.
Nhà xuất bản: Nxb Lao động Xã hội


(TuanVietNam)

4 năm trước, công chúng xôn xao với chủ đề "Cơ hội của Thánh Gióng", làm thế nào tập hợp sức mạnh dân tộc để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, sớm biến Việt Nam thành cường quốc. Giờ đây, không thấy ai nói tới những chuyện "thần kỳ" như vậy nữa.

Sự thực là sự thần kỳ cũng đã diễn ra ở nhiều quốc gia Đông Á. Những vùng đất xưa là cánh đồng lúa, khu ổ chuột chỉ sau 15, 20 năm phát triển bỗng trở thành những khu cao ốc chọc trời như khu Phố Đông ở Thượng Hải. Tuy nhiên, điều tương tự đã không diễn ra ở đa số các quốc gia đang phát triển ở nhiều châu lục khác.

Việt Nam cũng được liệt vào danh sách các quốc gia có tốc độ tăng trưởng khá cao sau hơn 20 năm đổi mới. Nhưng chất lượng, chiều sâu và độ bền vững của tăng trưởng lại bị nghi ngờ. Sự phát triển dựa vào tăng vốn đầu tư và lao động giản đơn hơn là tăng năng suất nhờ cải tiến công nghệ.

Để tăng trưởng với số lượng và chất lượng tốt hơn, vẫn nghe nhiều quan chức, học giả lên tiếng đại loại như: chúng ta cần sử dụng hiệu quả hơn nữa viện trợ phát triển chính thức ODA, chúng ta phải thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư nước ngoài FDI, chúng ta nhất định phải phát triển nền giáo dục, chúng ta nhất thiết phải coi đầu tư vào khoa học công nghệ là ưu tiên hàng đầu…

Rất nhiều "cần", "phải", "nhất thiết", "nhất định". Rất nhiều "mệnh lệnh" đã được đưa ra nhưng vốn ODA vẫn bị xà xẻo, FDI vẫn chậm giải ngân, giáo dục và công nghệ vẫn chậm được cải thiện. Mệnh lệnh, hô hào, khẩu hiệu càng nhiều thì hiệu quả càng ít, xưa nay vẫn vậy…

Câu chuyện trên không chỉ diễn ra ở Việt Nam mà ở rất nhiều quốc gia khác. Các kế hoạch, chính sách, khuyến nghị phát triển… hoặc không được thực thi, hoặc được thực thi thì cũng không mang lại hiệu quả mong muốn trong thực tiễn.

Tại sao lại như vậy? Nhà kinh tế học William Easterly trả lời trong cuốn Truy tìm căn nguyên tăng trưởng.

Con người hành động vì động cơ

William là từng là chuyên gia của Ngân hàng thế giới (WB) về viện trợ và phát triển cho các nước thế giới thứ 3. Hơn 15 năm làm việc ở WB, ông có điều kiện khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố vẫn được coi là "thần dược" cho tăng trưởng kinh tế như: viện trợ, đầu tư, giáo dục, giảm dân số, xóa nợ…

Kết quả khảo sát của William Easterly khá bất ngờ: các thần dược trên không hoàn toàn có mối tương quan tỉ lệ thuận với tăng trưởng. Ở rất nhiều quốc gia, các yếu tố trên thì có nhưng tăng trưởng thì không.

William lý giải thực tế trên bằng một nguyên tắc cơ bản trong kinh tế học: Con người ai cũng hành động vì động cơ.

Để cho dễ hiểu, hãy thử hình dung trong một doanh nghiệp nhà nước có một giám đốc lo cho việc công thì ít mà tìm cách tư túi thì nhiều. Sử dụng vốn nhà nước và lại ít bị kiểm soát, ông không có động cơ phải kinh doanh hiệu quả nên sẽ mặc sức lãng phí, tham nhũng. Nhân viên công ty cũng dễ có xu hướng hành động theo kiểu "biến tài nguyên công ty thành tài sản cá nhân."

Trong tình huống này, nhà nước tiếp tục rót thêm tiền để công ty đầu tư vào máy móc, thiết bị cũng không mang lại hiệu quả vì đơn giản, toàn bộ công ty không có động cơ để kinh doanh hiệu quả.

Có tìm cách giáo dục đào tạo nhân viên cũng chẳng ích gì bởi nhân viên không có động cơ phải học để nâng cao trình độ chuyên môn. Nếu mang quà cáp đến nhà sếp dễ được đề bạt hơn có năng lực thật thì không ai cảm thấy được khuyến khích phải phát triển năng lực cả.

Công ty vay ngân hàng quá nhiều tới mức không có khả năng chi trả, nhà nước tìm cách xóa nợ hay cho vay lãi suất thấp để công ty có điều kiện vực lại. Nhưng các giải pháp trên cũng chỉ mang tính tình thế, công ty thiếu động cơ để phát triển lại càng được thể, tiếp tục vay vốn ưu đãi để thực hiện những dự án hiệu quả thấp, thất thoát cao.

Tóm lại, mọi nỗ lực đầu tư, viện trợ, xóa nợ, giáo dục mà nhà nước ưu đãi cho công ty trên đều vô nghĩa. Các thần dược trên không thể thúc đẩy tăng trưởng khi mà bản thân công ty và những người lãnh đạo vô trách nhiệm của nó không có động lực phải tăng trưởng.

Điều tương tự cũng diễn ra ở cấp độ quốc gia với một chính phủ vô trách nhiệm, mọi thần dược giúp các nước này phát triển cũng như muối bỏ bể. William Easterly lý giải:

"Tăng thêm máy móc sẽ trở thành vô ích khi thiếu động lực phát triển. Có thể máy móc sẽ tạo ra những sản phẩm không ai mong muốn hoặc máy móc thì có nhưng những yếu tố sản xuất đầu vào thì lại không" hoặc "nếu không có động cơ để đầu tư cho tương lai thì việc mở rộng giáo dục chẳng còn mấy giá trị. Cho dù bạn bị buộc phải đến trường thì điều đó cũng không làm thay đổi động cơ để bạn đầu tư vào tương lai. Ở một đất nước mà hoạt động duy nhất đem lại lợi nhuận là vận động hành lang để tìm kiếm ân huệ thì tạo ra những lao động có tay nghề cao không phải là chìa khóa của thành công."

Một chính phủ không bị kiểm soát và cân bằng bởi các lực lượng khác trong xã hội sẽ rất dễ dẫn tới tình trạng vô trách nhiệm. Chính phủ đó có thể bóp chết tăng trưởng bằng cách dễ dàng nhất là triệt tiêu, kìm hãm động cơ. William chỉ ra trong cuốn sách nhiều dạng thức qua đó chính phủ trực tiếp hay gián tiếp kìm hãm động cơ của xã hội từ tham nhũng, lạm phát, thâm hụt ngân sách tới duy trì tỉ giá chợ đen cao… Khi đó, các nỗ lực phát triển đều dậm chân tại chỗ.

"Thần dược" - có hay không?

Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới từ năm 1986. Đó có thể coi là cuộc giải phóng động cơ lớn lao. Chấp nhận quyền tự do sở hữu tư nhân, tự do kinh doanh đã khiến cho mỗi cá nhân tìm thấy động cơ làm giàu, động cơ phát triển. Mức tăng trưởng khá cao trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua là kết quả của cuộc giải phóng động cơ đó.


Dù vậy, giải phóng động cơ là cần thiết nhưng chưa đủ. Còn cần làm nhiều hơn thế để biến những khu ổ chuột thành cao ốc. Ngay cả khi không bị kìm hãm bởi chính phủ thì cũng không có gì đảm bảo rằng những người dân ở các quốc gia nghèo có được động lực và khuyến khích cần thiết để vươn lên mạnh mẽ hơn. Họ vẫn có xu hướng quẩn quanh trong vòng tròn tiêu cực của thiếu kỳ vọng, niềm tin và nỗ lực.

Việt Nam cũng đang ở ngưỡng loay hoay tìm một con đường phát triển khác với kiểu tăng trưởng theo chiều rộng như hiện nay. Nhiều học giả đã đề cập tới sự cần thiết của một cuộc đổi mới thứ hai, thay đổi căn bản để quá trình phát triển có được bước ngoặt, chất lượng và bền vững hơn. Nhưng thực hiện điều đó trên tư tưởng nào? William Easterly đã rút ra được một số kết luận có giá trị.

Cuốn sách không đưa ra một công thức hay "thần dược" nào cụ thể, nhưng những người làm chính sách ở Việt Nam có thể tìm thấy nhiều gợi mở và khuyến nghị quan trọng cho quá trình đổi mới tiếp theo.


=> lối viết của cuốn này cũng khá lạ nhưng nhiều kiến thức đã lặp đi lặp lại ở các cuốn khác như "Toàn cầu hoá và những mặt trái" hay "Những kẻ giấu mặt trong nền kinh tế châu Á". Tuy nhiên, đọc cuốn này thì thấy hay nhất là "Câu chuyện về hiệu suất tăng dần, sự lan truyền, kết hợp và những cái bẫy" trong phần "Con người hành động vì động cơ". Chương này nói lên tầm quan trọng của việc đầu tư vào tri thức nhưng đồng thời cũn chỉ ra rằng, nếu ko có động cơ thúc đẩy thì sẽ không có sự đầu tư và lan truyền của tri thức. Ví dụ như: quy tắc ra quyết định một cá nhân X về lựa chọn hợp lý việc có đầu tư cho tri thức của anh ta hay không sẽ là tai hại đối với đất nước nhưng ít gây hại cho bản thân anh ta (cái này giống như prisoner's dilemma trong game theory). Một quốc gia có trình độ kỹ năng trung bình thấp sẽ bị kìm hãm tại mức này do không có ai cảm thấy việc đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng là cần thiết. Những người được đào tạo trong xã hội có rất ít tri thức sẽ không được hưởng nhiều lợi ích như những người sống trong xã hội có nhiều tri thức do khả năng lan truỳên tri thức cũng thấp hơn nhiều. Chính vì thế, động cơ tự đào tạo sẽ yếu dần đi.
Các phần khác của cuốn sách không để lại nhiều ấn tượng cho lắm..

Monday, June 15, 2009

Sự Trở Lại Của Kinh Tế Học Suy Thoái Và Cuộc Khủng Hoảng Năm 2008


Sự Trở Lại Của Kinh Tế Học Suy Thoái Và Cuộc Khủng Hoảng Năm 2008
Tác giả: Paul Krugman. - Dịch giả: Nhiều dịch giả.
Nhà xuất bản: Nxb Trẻ
Số trang: 256
Hình thức bìa: Bìa mềm
Kích thước: 14,5 x 20,5 cm
Ngày xuất bản: 05 - 2009

Giới thiệu về nội dung (Vinabook)

Chủ nhân duy nhất của Nobel Kinh tế 2008 đã diễn giải sự tương đồng kỳ lạ giữa cuộc khủng hoảng hiện tại và những sự kiện đã gây ra Đại suy thoái 1929-1933; và giải thích những phương cách để tránh khỏi thảm họa.

Đa số các nhà kinh tế, trong mức độ mà họ suy nghĩ về đề tài này, đều cho rằng cuộc Đại suy thoái của thập niên 1930 chỉ là một thảm họa vu vơ và không cần thiết. Phải chi Herbert Hoover không cố gắng cân bằng ngân sách trong bối cảnh kinh tế suy thoái; phải chi Cục Dự trữ Liên bang không bảo vệ chế độ bản vị vàng bất chấp cái giá phải trả là nền kinh tế quốc nội; phải chi người ta cung cấp thanh khoản cho các ngân hàng gặp khó khăn để làm dịu sự sợ hãi trong hệ thống ngân hàng gặp khó khăn để làm dịu sự sợ hãi trong hệ thống ngân hàng những năm 1930-1931… thì vụ sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1929 cũng chỉ dẫn tới một cuộc suy thoái bình thường, không đáng để ý và chắc chắn sẽ rơi vào quên lãng. Do các nhà kinh tế và những nhà làm chính sách đã “thuộc bài”… dường như một cuộc Đại suy thoái tương tự sẽ không bao giờ có cơ may xảy ra nữa.

Liệu điều này có đúng hay không?

… Ngoài ra, dù mục tiêu sau cùng của cuốn sách là phân tích (analytical), đa phần nội dung lại bao gồm lối văn kể chuyện (narrative). Một phần là vì thứ tự trước sau của các sự kiện (ở đây có thể xem như cốt truyện) là một minh chứng quan trọng cho ý nghĩa và tính chính xác của lý thuyết đề ra (chẳng hạn, quan điểm “chính thống” về khủng hoảng kinh tế xem khủng hoảng là một hình phạt đích đáng dành cho một số nền kinh tế, đã không thể được biện minh khi đối mặt với thực tế: vài nền kinh tế có vẻ ngoài rất khác biệt cùng gặp khủng hoảng trong vài tháng gần nhau – một sự trùng hợp đặc biệt thú vị!). Ngoài ra, tôi cũng nhận ra rằng các sự kiện nối tiếp nhau cũng cung cấp bối cảnh cần thiết cho các nỗ lực tìm hiểu và giải thích của tôi, và rằng không phải ai cũng có điều kiện theo dõi sâu sát những sự kiện đặc biệt kịch tính trong mười tám tháng vừa qua. Cũng như ít ai nhớ chính xác những gì Thủ tướng Mahathir phát biểu tại Kuala Lumpur hồi tháng 8 năm 1997 và liên hệ chúng với những gì Donald Tsang đã làm ở Hongkong một năm sau đó! Trong những trường hợp như vậy, những câu chuyện được kể trong cuốn sách này sẽ giúp các bạn cùng hồi tưởng lại và suy ngẫm…

Theo Tuần Việt Nam
Sự trở lại của kinh tế học suy thoái
(Thứ năm, 21/05/2009 02:37:08 PM)

Krugman viết cuốn Sự trở lại của kinh tế học suy thoái vào năm 1999. Sau đó đúng 10 năm, cuốn sách được tái bản với nhiều phần bổ sung. Sự trở lại của cuốn sách giờ đã mang một ý nghĩa khác hẳn, không chỉ bởi tác giả của nó vừa mới đoạt giải Nobel Kinh tế năm 2008, mà còn bởi, cũng năm ấy, một cuộc khủng hoảng kinh thiên động địa đã trở lại như những dự phóng của ông.

Hài hước và bình dân, Krugman đã không dùng những thuật ngữ và mô hình hàn lâm để lý giải khủng hoảng. Ông viết bằng thứ ngôn ngữ đời thường để những người bình thường có thể hiểu được những gì đang diễn ra trong một thế giới kinh tế phức tạp. Thi thoảng, Krugman đơn giản hóa thế giới đó bằng những ẩn dụ và so sánh ngộ nghĩnh.

Krugman đã khảo sát các cuộc khủng hoảng kinh tế và ông nhận thấy dường như mọi cuộc khủng hoảng đều có một điểm chung: niềm tin tiêu cực tự nó biến thành sự thật. Cho dù niềm tin tiêu cực thể hiện ở thị trường tiền tệ, thị trường tài chính, thị trường bất động sản hay thị trường hàng hóa tiêu dùng thì chúng cũng tạo ra những hệ luỵ nguy hiểm cho nền kinh tế. Suy thoái chìm sâu vào suy thoái, khủng hoảng lại tạo ra khủng hoảng.

Cuộc khủng hoảng năm 2008 cũng hoàn toàn tương tự như thế, nó là sự tổng hợp nhiều đặc điểm của toàn bộ những cuộc khủng hoảng đã từng diễn ra. Và cho tới bây giờ, vẫn thấy chỉ có liều thuốc là các gói kích thích kinh tế, mở rộng tín dụng.

Krugman cũng không đưa ra được giải pháp nào mới trong ngắn hạn ngoài việc kêu gọi kích thích tín dụng: "nếu những gì đã làm là chưa đủ, phải tiếp tục làm và làm cả những việc khác, cho đến khi tín dụng bắt đầu chẩy và nền kinh tế thực bắt đầu hồi phục."

Trong dài hạn, Krugman cũng chỉ nhấn mạnh sự cần thiết của việc điều tiết thị trường tài chính và quản lý quá trình toàn cầu hóa tài chính sao cho chúng không đi theo những quỹ đạo rủi ro quá mức. Đây cũng không phải là những ý mới.

Thế giới thực tất nhiên phức tạp hơn nhiều so với vườn trẻ trong giả định của Krugman. Quản lý nền kinh tế thực chắc chắn cũng phức tạp hơn hợp tác xã giữ trẻ giả định trên. Nhưng có vẻ các suy thoái trong hai thế giới đó khá giống nhau về bản chất tự nhiên của chúng và giải pháp loại trừ khủng hoảng cũng không có gì cao siêu ngoài việc “bơm” coupon nhiều hơn nữa. Cho dù, lịch sử đã chứng minh biện pháp đó không phải lúc nào cũng hiệu quả và thực hiện được.

Nếu thế thì, 2008 sẽ chưa thể là cuộc khủng hoảng cuối cùng và Krugman cũng không tự "vơ" vào mình trách nhiệm kê ra "toa thuốc miễn dịch" khủng hoảng cho bất kỳ nền kinh tế nào, điều ông làm được, có chăng là những kiến giải minh triết và đi vào bản chất mà thôi.

Khánh Duy

(Nguồn: Báo Tuần Việt Nam)

=> Sách viết theo lối bình dị, dễ hiểu cả cho những người ít chuyên môn về kinh tế vì sử dụng nhiều ví dụ đơn giản để minh hoạ. Một loạt những cuâ chuyện từ khủng hoảng những năm 30 ở Mỹ đến khủng hoảng Argentina, Thailand, Malaysia ... sự sụp đổ của Bảng Anh, quỹ LTCM... Tuy nhiên, "cảm giác" rằng những ý kiến trong phần cuối có vẻ "hơi nhạt". Dù sao, đây cũng là cuốn đáng đọc để có một hệ thống thông tin về suy thoái từ trước đến nay.

Update 31 Jul 2009:
Free download here (english version)

Thursday, May 28, 2009

Tư Duy Chiến Lược



Tư Duy Chiến Lược (Lý Thuyết Trò Chơi Thực Hành)
Tác giả: Avinash K.Dixit. Bary J.Nalebuff. - Dịch giả: Lê Ngọc Liên. Nguyễn Tiến Dũng.
Nhà xuất bản: Nxb Tri Thức

Giới thiệu về nội dung
Tư duy chiến lược là nghệ thuật vượt qua đối thủ cạnh tranh, với nhận thức rằng họ cũng đang cố gắng vượt qua mình. Mỗi chúng ta đều phải áp dụng tư duy chiến lược cách này, hoặc cách khác tại nơi làm việc và ngay ở nhà. Thương gia và các doanh nghiệp sử dụng những chiến lược cạnh tranh phù hợp để tồn tại. Chính trị gia phải tạo ra những chiến lược quảng bá để được trúng cử và đưa ra những chiến lược hành pháp để thực hiện được những định hướng của họ. Các huấn luyện viên bóng đá vạch ra các kế hoạch chiến lược để các cầu thủ tiến hành trên sân bóng. Các bậc cha mẹ muốn giúp giáo dục con cái cũng phải trở thành những nhà chiến lược nghiệp dư. Trong 40 năm qua, những chiến lược điều tiết siêu năng lượng hạt nhân đã đảm bảo sự sinh tồn cuả trái đất.

Tư duy chiến lược đúng đắn trong nhiều hoàn cảnh khác nhau vẫn luôn là một nghệ thuật. Nhưng nền tảng của nó được xây dựng trên một số nguyên tắc cơ bản - một khoa học về chiến lượ. Mục đích của tác giả trong việc viết cuốn sách này là người đọc từ những lĩnh vực và nghề nghiệp khác nhau có thể trở thành những nhà chiến lược giỏi hơn nếu họ biết được những nguyên tắc này.

Ngành khoa học xã hội chuyên nghiên cứu quá trình ra các quyết định chiến lược được gọi là " Lý thuyết trò chơi ". Các trò chơi trong lý thuyết này bao gồm từ chơi cờ đến nuôi dạy trẻ, từ quần vợt đến các thương vụ thâu tóm trong kinh doanh, từ quảng cáo đến kiểm soát chạy đua vũ trang. Để chơi được những trò chơi này đòi hỏi rất nhiều loại kỹ năng khác nhau. Các kỹ năng cơ bản như khả năng ném trúng bóng vò rổ, sự am hiểu về các tiền lệ trong luật, hay chơi bài pôkê, thuộc về một loại kỹ năng, tư duy chiến lược là một loại khác.Tư duy chiến lược bắt đầu từ những kỹ năng cơ bản của bản thân bạn và xem xét xem làm thế nào để sử dụng chúng một cách tốt nhất. Là một luật sư bạn phải ra một quyết định có tính chất chiến lược để bảo vệ thân chủ của bạn. Là huấn luyện viên biết được đội bóng đá của bạn chuyến bóng hay dẫn bóng tốt đến đâu và đội kia phản ứng lại trước mỗi chọn lựa như thế nào, là huấn luyện viên bạn sẽ phải ra quyết định nên chuyền bóng hay dẫn bóng, tư duy chiến lược còn có nghĩa là biết khi nào không nên chơi.


" Nghệ thuật cạnh tranh được cập nhật trong cuốn sách này bởi Dixit và Nalebuff. Họ đã làm cho các công cụ chiến lược trở nên hài hước, gần gũi với con người và hiệu quả " (Elizabeth Bailey, Đại học tổng hợp Carnegie Mellon)
" Tôi phải thú nhận rằng tôi chưa bao giờ nghĩ về các chiến lược tiền tệ như một trò chơi, nhưng giáo sư Dixit và Nalebuff đã thành công rực rỡ và khi làm sáng tỏ những vấn đề chúng ta hằng đối mặt khi phải đưa ra những quyết định, dẫu vấn đề đó là vi mô hay vĩ mô " (Paul A.Volcker Đại học tổng hợp Princeton)
" Tư duy chiến lược cho bạn những công cụ cốt yếu để đàm phán hiệu quả " ( Bob Woolf, tác giả cuốn sự thuyết phục hoàn toàn)
" Để hiểu biết về hiện tại, bạn cần một sự hiểu biết khái quát về Lý thuyết trò chơi. Dixit và Nalebuff đã cung cấp cho bạn những chìa khoá cốt yếu. Bạn sẽ gặt hái được nhiều điều bổ ích và thú vị từ cuốn sách này " ( Paul Samuelson Giải Nobel Kinh tế 1970)

Mục lục:
Lời bạt
Lời giới thiệu
Phần 1:
1. Mười câu chuyện chiến lược
2. Đoán câu trả lời của đối thủ
3. Tư duy xuyên qua chiến lược đối phương
Lời bạt cho phần 1
Phần 2:
4. Hoà giải nghịch cảnh người tù
5. Các bước đi chiến lược
6. Cam kết đáng tin
7. Tính bất đoán
Lời bạt cho phần 2
Phần 3:
8. Kề miệng hố chiến tranh
9. Hợp tác và phối kết
10. Chiến lược tranh cử
11. Thương lượng
12. Các động cơ khuyến khích
13. Các bài tập tình huống khác

=> cuốn này đọc hay, đọc xong kiếm được mấy thủ thuật. Thích cái trò đấu giá trả theo giá người thứ 2 và trò cam kết trả phần chênh lệch nếu có nơi nào bán giá thấp hơn.

Sunday, February 15, 2009

Tư Tưởng Kinh Tế Kể Từ Keynes - Economic Thought Since Keynes - Michel Beuad


Tác giả: Michel Beaud. Gilles Dostaler. - Dịch giả: Nguyễn Đôn Phước.
Nhà xuất bản: Nxb Tri Thức
Số trang: 696
Hình thức bìa: Bìa mềm
Kích thước: 16 x 24 cm
Ngày xuất bản: 11 - 2008
Trọng lượng: 1100 gram
Giá bìa: 140.000 VNĐ

Sách này giới thiệu tư tưởng kinh tế kể từ khi tác phẩm Lí thuyết tổng quát của Keynes được xuất bản. Sách hướng dẫn đến những ai muốn tự định hướng trong mê cung của tư tưởng kinh tế đương đại. Đặc biệt sách nhắm đến sinh viên, giảng viên kinh tế và giảng viên các khoa học xã hội. Và cả những nhà kinh tế chuyên sâu vốn thường quen thuộc với những tác giả và những cuộc tranh luận trong chuyên ngành của mình sẽ tìm thấy ở đây một công cụ làm việc và tham khảo cho những lĩnh vực nghiên cứu khác.

Quyển sách này nhằm trình bày toàn bộ những chuyển động đã để lại dấu ấn trong tiến trình tư tưởng kinh tế kể từ cuộc cách mạng keynesian. Chủ yếu tập trung vào nội dung trung tâm của khoa học kinh tế đương đại, và do đó tập trung vào những phân tích, chủ đề và tranh luận cơ bản, sách này nhằm trình bày một cách tổng quát và có hệ thống những điểm cốt lõi hướng đến ba mục tiêu: làm cho số đông công chúng dễ nắm bắt bộ môn, cung cấp cho các chuyên gia một số thông tin được kiểm tra chặt chẽ, và khai thông vài hướng kiến giải.

Tóm lại, để trình bày tiến hóa của tư tưởng kinh tế đương đại, điều cần thiết là phải phối cảnh song song tiến hóa của tư tưởng này với những cuộc tranh luận giữa các trào lưu và phần trình bày của tác giả, với những đặc điểm và hành trình tư tưởng của họ. Chính vì thế bạn đọc sẽ tìm thấy trong quyển sách này:

- Trước hết là một phác thảo diễn tiến của lịch sử tư tưởng kinh tế qua đó trình bày - bằng cách tránh những đơn giản hóa - những bước tiến và những bước ngoặt có ý nghĩa, những trường phái, trào lưu và tranh luận trong sự chuyển động chung này; những tác giả có một vài trò chủ yếu hay có ý nghĩa được nêu bật;

- Tiếp đấy là một từ điển tác giả: một trăm bốn mươi lăm tác giả được nghiên cứu; cho mỗi tác giả lần lượt được trình bày đôi nết về tiểu sử, một thư mục những công trình chính được công bố, một phần phân tích những đóng góp của tác giả vào tư tưởng kinh tế và cuối cùng là những công trình có chọn lọc được viết về tác giả;

- Cuối cùng, sau một thư mục tổng quát, là một bảng tra cứu cho phép tìm nhanh tất cả các tác giả được nêu tên (những tác giả trong từ điển và cả những tác giả không có mặt trong từ điển nhưng được nêu trong phần trình bày lịch sử cúng như những tác giả của những sách và bài viết được trích dẫn).

Mục lục:

Lời giới thiệu

Lời tựa (cho ấn bản tiếng Việt)

Lời nói đầu (cho án bản rút gọn)

Lời người dịch

Trình bày sơ lược

Phần I. Phác thảo một lịch sử tư tưởng kinh tế kể từ lí thuyết tổng quát của Keynes

Dẫn nhập

1. Keynes và lí thuyết tổng quát

2. Cuộc cách mạng keynesian

3. Thắng lợi huy hoàng của chủ nghĩa can thiệp

4. Tiên đề hóa, hình thức hóa, toán học hóa

5. Một số thuyết chính thống mới: Tổng hợp tân cổ điển

6. Tính thường trực và đổi mới của những học thuyết phi chính thống

7. Sự trỗi dậy của học thuyết tự do

8. Những kinh tế học vĩ mô mới

9. Về tháp Babel và ba cách tiếp cận của tư tưởng kinh tế đương đại

Lời bạt (cho ấn bản tiếng Việt)

Phần II. Từ điển những nhà kinh tế đương đại chính


From TuanVietnam

Đọc lại Keynes giữa buổi "đầy ắp âm thanh và cuồng nộ"
16/12/2008 07:57 (GMT + 7)
Michel Beaud và Gilles Dostaler chọn năm 1936, năm xuất bản tác phẩm chính của Keynes - Lí thuyết tổng quát về việc làm, tiền lãi và tiền tệ làm khởi điểm cho một phác họa toàn cảnh diễn tiến sôi động của tư tưởng kinh tế đến cuối thể kỉ qua, một lịch sử "đầy ắp âm thanh và cuồng nộ".

Tên sách: TƯ TƯỞNG KINH TẾ KỂ TỪ KEYNES
Tác giả: Michael Beaud & Gilles Dostaller
Dịch giả: Nguyễn Đôn Phước
Phát hành: NXB Tri thức & Phương Nam Books
(Tủ sách Dẫn nhập - NXB Tri thức)
Xin trích dẫn những dòng cuối của tác phẩm nổi tiếng của Keynes:

"Tư tưởng của các nhà kinh tế học và các triết gia chính trị học còn có thế lực mạnh hơn là người ta tưởng kể cả khi tư tưởng đó đúng hay sai ... Những người có đầu óc thực tiễn cho rằng họ hoàn toàn không bị chi phối bởi bất kì ảnh hưởng của học thuyết nào lại thường là nô lệ của một nhà kinh tế học nào đã chết. Những kẻ điên rồ nắm quyền lực trong tay tưởng như nghe thấy tiếng nói trong không trung, nhưng lại đang chắt lọc cuồng mộng của họ từ một cây bút tầm thường nào đó mấy năm về trước.

Tôi chắc rằng tầm quan trọng của những lợi ích cục bộ được thổi phồng lên nhiều so với ảnh hưởng mở rộng dần dần của những tư tưởng này ... Sớm hay muộn, chính những tư tưởng, chứ không phải những lợi ích cục bộ, mới là điều nguy hại đối với điều tốt hay điều xấu".

Cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế đang diễn ra càng làm nổi bật tính thời sự của nhận định trên về tầm quan trọng của tư tưởng kinh tế, như được minh chứng qua cuộc đối thoại sau.

Ngày 23/10 vừa qua, điều trần trước quốc hội Mĩ, ông Greenspan, khi được nhắc lại niềm tin của ông trước đây vào hệ thống "free market" mà theo lời ông thì "những thị trường tự do và cạnh tranh là cách tốt nhất, và không có gì bằng, để tổ chức các nền kinh tế", đã thừa nhận rằng ông đã "tìm thấy một sai lầm, một vết rạn nứt, không rõ có ý nghĩa như thế nào và mang tính thường xuyên hay không, khiến tôi vô cùng đau khổ".

Bị vị chủ tịch ủy ban giám sát hoạt động chính phủ hối thúc ông nói rõ thêm ý ông khi hỏi thẳng: "Nói cách khác, phải chăng ông thấy rằng thế giới quan, hệ tư tưởng của ông là không đúng, không khả thi", Greenspan xác nhận ngay: "Đúng vậy, chính xác là như thế. Đó là lí do khiến tôi bị sốc vì trong suốt 40 năm hay lâu hơn thế nữa, một cách vô cùng hiển nhiên hệ thống đã hoạt động đặc biệt tốt".

Sự kiện người cầm chịch chính sách tiền tệ Mĩ trong gần hai mươi năm liên tục mà mỗi một tuyên bố khiến thị trường phải chờ đón từng lời, hai năm trước mới rời khỏi chức vụ trong hào quang của một bậc thầy (maestro), nay buộc phải nhận một phần trách nhiệm để nổ ra cuộc khủng hoảng chưa biết sẽ đưa thế giới về đâu, đủ biện minh cho việc cần phải quan tâm đến tư tưởng kinh tế.

Cũng trong lần phát biểu trên trước quốc hội Mĩ, Greenspan còn thừa nhận là sự thất bại trong việc xác định đúng đắn giá những tài sản có rủi ro cao đã đẩy nhanh cuộc khủng hoảng và nhắc đến các công trình của cái gọi là giải Nobel kinh tế năm 1990 làm cơ sở hỗ trợ cho những tiến bộ của thị trường các chứng khoán phái sinh, dựa trên công nghệ tin học và viễn thông, với sự góp sức của các chuyên gia toán học và tài chính.
Ông cũng nhận định rằng thiết kế lí thuyết này, từng có ảnh hưởng lớn đến việc quản lí rủi ro suốt nhiều thập niên đã sụp đổ vào mùa hè năm qua, nhưng vẫn cho rằng nếu các mô hình được nạp thêm dữ liệu về những thời kì lịch sử khác thì bộ mặt của thị trường tài chính sẽ không thê thảm như hôm nay.

Trong Tư tưởng kinh tế kể từ Keynes, Beaud và Dostaler dành nguyên một chương cho sự hình thành xu hướng tiên đề hóa, hình thức hoá và toán học hoá, được xem như một "đột biến triệt để" mà tầm quan trọng, trong một thời gian dài, bị cuộc "cách mạng keynesian" che khuất.

Trước những biện pháp đối phó khẩn cấp của các chính quyền phương Tây, một sinh viên chỉ còn nhớ tư tưởng kinh tế qua danh tiếng của những nhà lí thuyết nối tiếp nhau trong thời gian có thể cho rằng giờ Keynes phục thù Hayek đã điểm!

Hay một nhà báo theo dõi thời sự kinh tế có thể cho là cuộc khủng hoảng đang tiếp diễn khép lại mấy thập niên thống trị của học thuyết "tân tự do" và từ nay sẽ là sự hồi sinh của các chính sách tùy nghi theo kiểu keynesian và của những biện pháp quy định hoá.

Nhưng ai có đọc Tư tưởng kinh tế kể từ Keynes thì sẽ không vội vàng tiếp nhận kiểu kết luận như thế. Vì bao giờ cũng có một khoảng cách giữa tư tưởng của lí thuyết gia và những chính sách được thực thi nhân danh (hay núp bóng hoặc đội lốt) tư tưởng này. Phải chăng vì thế mà tương truyền rằng Keynes từng thốt lên: "Tôi không phải là một nhà keynesian", cũng như Marx trước đây có nói ông không phải là nhà marxist?

Và nếu trong lịch sử, sự phân cực các học thuyết khác nhau diễn ra trên trục Nhà nước-thị trường thì hai tác giả cũng đã cho thấy là dù cho ở mỗi thời điểm, bao giờ cũng có sự thống trị của một học thuyết "chính thống" nhưng nhiều học thuyết "phi chính thống" khác vẫn không chịu khuất phục. Bối cảnh hình thành, tính phức tạp, đối lập lẫn đan xen, chuyển hoá lẫn nhau, thậm chí hội tụ trên một số điểm nhất định, giữa các trào lưu khiến cho họa đồ tư tưởng kinh tế đương đại không chỉ đậm một gam màu duy nhất.

Điều này càng hiện rõ khi bắt đầu xuất hiện những cách lí giải và đề xuất hướng thoát khỏi cuộc khủng hoảng hiện nay theo quan điểm của trường phái Áo (ABCT), theo cách nhìn hậu keynesian kiểu Minsky, theo quan điểm thể chế, theo quan điểm marxist, hoặc vận dụng những khái niệm như tính bất toàn của thông tin, thông tin không đối xứng, hoặc lấy cảm hứng từ kinh tế học hành vi...vv...

Đối với nhà nghiên cứu muốn theo dõi các cuộc tranh luận lí thuyết đang khởi động chung quanh cuộc khủng hoảng hiện nay, quyển Tư tưởng kinh tế kể từ Keynes cung cấp những thông tin ban đầu về các vấn đề không thuộc chuyên ngành hẹp của mình. Để viết tác phẩm này, Beaud và Dostaler tuân thủ các nguyên tắc sau: "Từ chối đánh giá nội dung có trước mắt theo thước đo của bất kì học thuyết chính thống nào", "kết hợp lịch sử tư duy và lịch sử tư tưởng" và vận dụng "phương pháp tái tạo lịch sử", tức là "trình bày tư tưởng của các tác giả bằng chính những khái niệm do chính các tác giả này sử dụng và theo những cách trình bày mà họ có thể chấp nhận".
Tác phẩm còn có phần từ điển điểm qua tiểu sử, sự nghiệp, những đóng góp và luận điểm của 150 nhà kinh tế đương đại chính tiêu biểu cho các trào lưu khác nhau trong số hơn 1.000 nhà kinh tế được nêu tên và/hoặc trích dẫn trong phần phác thảo lịch sử. Thư mục chung cùng với những thư mục chi tiết về các tác giả có mặt trong từ điển, và một bảng tra cứu theo chủ đề biến quyển sách thành một công cụ làm việc đắc lực, tập hợp nhiều nguồn tham khảo cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn.

Về mặt học thuật trên đây là vài nét chính tôi thu hoạch được khi đọc Tư tưởng kinh tế kể từ Keynes, với mong muốn chia sẻ cùng các bạn rằng kinh tế học không hẳn đã là một "khoa học buồn thảm" (dismal science).

Nhưng tôi sẽ sai lầm nếu gieo cho các bạn cảm giác rằng đây là một quyển sách hàn lâm do hai giáo sư đại học ngồi viết trong tháp ngà. Với tư cách nhà khoa học, các tác giả đã viết tác phẩm một cách khách quan, trung thực dựa trên một quan điểm rõ ràng như vừa được nêu, thoả mãn đầy đủ những chuẩn mực học thuật nên được các đồng nghiệp đánh giá cao, dù có đồng ý với họ hay không.

Vì đứng trước sự phong phú của tư tưởng đương đại, hai đồng tác giả giữ thái độ không giáo điều khi viết rằng: "Nhận xét có sự bùng nổ [...] của tri thức kinh tế trước hết phải dẫn đến việc ghi nhận tính đa dạng, chấp nhận sự đa nguyên này nhưng cũng là để mọi người cùng chấp nhận nó".

Nhưng thấm nhuần tinh thần nhân văn của thế kỉ Ánh sáng, như câu họ trích dẫn nhà văn Rabelais cho thấy: "Khoa học mà không có lương tâm chỉ là điêu tàn của tâm hồn", nên với tư cách nhà kinh tế đồng thời cũng là công dân toàn cầu, họ không ngần ngại lên tiếng khi nhận thức rằng trái đất không phẳng.

Trong lời tựa cho bản in tiếng Việt, sau khi nhắc lại đánh giá của Keynes trong chương 12 nổi tiếng của Lí thuyết tổng quát, rằng đầu cơ là vô hại khi các nhà đầu cơ là những "bọt bong bóng trong dòng hoạt động kinh doanh ổn định" thì tình hình trở nên nguy kịch khi "hoạt động kinh doanh chỉ còn là một bọt bong bóng trong cơn lốc đầu cơ", và như thế sự phát triển của tư bản trở thành "một thứ phẩm của các hoạt động trong sòng bạc", Gilles Dostaler viết tiếp :

"Nhận định trên của Keynes có tính tiên tri và đáng kinh ngạc khi ta xét đến sự phát triển trong hai mươi năm vừa qua, với việc nhân bội các cuộc khủng hoảng tài chính, mà cuộc khủng hoảng mới nhất vào lúc những dòng này được viết ra (tháng giêng 2008), gây nên bởi đầu cơ bất động sản quá đáng ở Hoa Kì, bắt đầu được mở rộng và đe dọa nền kinh tế thế giới.

Sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods, mà Keynes đã góp phần dựng lên, việc phi quy định hoá tài chính, việc hủy bỏ mọi cản trở cho sự lưu thông vốn trên bình diện quốc tế, tất cả các hiện tượng liên kết với nhau này và gắn với điều được gọi là toàn cầu hoá làm cho những xu hướng nguy hiểm cho sự tồn vong của nhân loại thêm đậm nét.

Từ nay, hơn bao giờ hết, chủ nghĩa tư bản là một hệ thống thế giới bị các quyền lực tài chính thống trị, những quyền lực mà thước đo duy nhất là đồng tiền và mục đích duy nhất là khả năng sinh lợi tài chính. Trách nhiệm của những nhà kinh tế (trên cương vị công dân) là phải góp phần đảo ngược xu hướng này".

Còn trong lời bạt, Michel Beaud nhất trí là "chúng ta đang ở trong một cuộc đột biến toàn cầu không có tiền lệ trong lịch sử [...] và bị cuốn vào một quá trình tiến hoá mạnh mẽ và nguy hiểm đe dọa tương lai của các xã hội loài người, chủ nghĩa nhân văn và hành tinh". Thế mà, ông thất vọng ghi nhận rằng: "đứng trước thách thức này, phần chủ yếu của các công trình trong kinh tế học không được lồng vào một nỗ lực tập thể nhằm góp phần chẩn đoán và đề xuất những liệu pháp".

Một phần vì, như Gilles Dostaler đã nhấn mạnh trong lời tựa, "một phần lớn lí thuyết kinh tế hiện nay giống như toán học ứng dụng hơn là suy tư về hiện thực con người và xã hội. Một phần khác vì hiếm có những nhà kinh tế mà động cơ các công trình của họ là một động cơ đạo đức, chính trị, hay đơn giản hơn là vì con người".

Bởi thế, sau khi "nhắc lại rằng trong hơn hai thế kỉ, hầu hết những công trình kinh tế học chính trị đều không bỏ qua chiều kích đạo đức, lẫn lịch sử và các bộ môn khác bàn về con người và xã hội", Michel Beaud kêu gọi các nhà kinh tế noi gương hai bậc tiền bối ở Cambridge là Marshall và Keynes để "khi tính đến sự phân mảnh của tri thức, học cách tư duy tính phức hợp trong sự cộng tác với các chuyên gia của tất cả các bộ môn liên quan đến đối tượng nghiên cứu, ...xem Trái đất trong tổng thể của nó và trong sự đa dạng của những hệ sinh thái và xem Nhân loại trong tính thống nhất của nó và trong sự đa dạng của các xã hội con người và do đó tìm kiếm những giải pháp" cho điều ông gọi là "cuộc xung đột các quá trình tái sản xuất", "vừa với mối quan tâm đến tính tổng thể vừa nghĩ đến tính đa dạng của các lộ trình".

Và ông mong chờ "các xã hội mới nổi lên, những xã hội năng động nhất và sáng tạo nhất của giai đoạn hiện nay, không chỉ phải tìm cách đuổi kịp mà còn phải đi trước bằng cách sáng tạo không phải chỉ công nghệ và năng lượng mà còn cả những nền nông nghiệp, những phương thức qui hoạch đô thị, những phương tiện giao thông vận tải không gây nguy hại cho Trái đất và sự Sống".

Xin được kết thúc với những trích dẫn tâm huyết trên của hai đồng tác giả, và nếu phải gói gọn trong một câu tôi sẽ nói rằng quyển Tư tưởng kinh tế kể từ Keynes là một sản phẩm trí thức ra đời trong những đất nước có xã hội dân sự phát triển.

Dịch giả Nguyễn Đôn Phước

=> tác phẩm mang phong cách hàn lâm nhưng rất chăm chút, thuận tiện cho việc nghiên cứu các học thuyết kinh tế. Là tài liệu tham khảo có giá trị.
Sách khá dày nhưng phần nội dung chính chỉ có 287 trang, phần còn lại là từ điển các nhà kinh tế đương đại chính.
Bản gốc của tác phẩm là tiếng Pháp và sách dịch cũng được dịch từ cuốn gốc này.

Free download english version.