Cuốn “Mao Trạch Đông ngàn năm công tội” do nhà xuất bản Thư Tác Phường ấn hàn, ra mắt tại Hồng Công tháng 7/2007 và tái bản tháng 6/2008, là một trong những cuốn sách đang được dư luận Trung Quốc hết sức quan tâm, với những luồn ý kiến nhận xét trái ngược nhau, từ hoan nghênh đến bất đồng, thậm chí phản đối gay gắt.
Tác giả Tân Tử Lăng nguyên là cán bộ nghiên cứu và giảng dạy tại Học viện quân sự cấp cao, Đại học Quân chính, Đại học Quốc phòng Trung Quốc. Ông nhập ngũ năm 1950, từng tham gia các phong trào chính trị do Mao phát động, về hưu năm 1994 với quân hàm Đại tá.
Đầu năm 2008, khi đề cập đến bối cảnh ra đời cuốn sách trên, Tân Tử Lăng nêu rõ: “Công cuộc cải cách mở cửa ở Trung Quốc đã thu được những thành tựu lớn lao, đồng thời cũng nảy sinh nhiều vấn đề nghiêm trọng, đáng chú ý là việc không thể ngăn chặn có hiệu quả nạn tham nhũng, việc phân phối của cải không công bằng dẫn đến xã hội bị phân hóa, khiến dân chúng rất bất mãn, nhiều người thậm chí công khai tỏ ra luyến tiếc thời đại Mao. Các thế lực cực tả ở Trung Quốc hiện nay muốn lợi dụng tâm trạng bất mãn này để phát động cuộc “Đại cách mạng văn hóa lần thứ hai”, gây cản trở cho việc thực thi các chính sách hiện hành. Nhân ngày giỗ Mao Trạch Đông 13/9/2005, nhiều cuộc mít tinh đã được tổ chức tại 18 thành phố lớn trong đó có Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân … với mục đích phê phán ban lãnh đạo hiện nay đã phản đội chuyên chính vô sản, phục hồi chủ nghĩa tư bản. Những người tham gia các cuộc mít tinh đã công khai hô các khẩu hiệu thời Đại cách mạng văn hóa, kêu gọi “dấy lên bão táp cách mạng”.
Tình hình trên khiến tác giả thấy cần phải làm cho mọi người thấy rõ thực trạng đời sống chính trị, xã hội và kinh tế của Trung Quốc dưới thời Mao, để từ đó có thể đánh giá một cách công khai bằng những công lao cũng như sai lầm của Mao đối với đất nước Trung Hoa, nhằm loại bỏ sự chống đối của phái cực tả đối với tiến trình cải cách mở cửa. Tuy nhiên, trong khi cố gắng làm điều đó, tác giả lại làm nổi lên một vấn đề quan trọng khác là: quan điểm của Trung Quốc về “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc” thực chất là gì? Và đâu là lối thoát cho Trung Quốc hiện nay?
Nhiều trong số những vấn đề được nêu ra trong cuốn sách như đánh giá về công lao và sai lầm của Mao, cuộc Đại cách mạng văn hóa, cái gọi là chủ nghĩa xã hội không tưởng dựa trên bạo lực của Mao, chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc, hay việc chuyển từ chủ nghĩa xã hội không tưởng sang chủ nghĩa xã hội dân chủ …hoàn toàn là những quan điểm riêng của tác giả.
Đây là cuốn sách có tính chất tham khảo về nhiều vấn đề liên quan đến lịch sử và vấn đề lý luận của nước Trung Hoa đương đại, nhằm giúp bạn đọc có được những cái nhìn nhiều chiều về những vấn đề đang được nhiều người quan tâm này.
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Đây là phần nhận xét của bạn cavenui (nguồn)
Nói đến cuốn “Mao Trạch Đông-ngàn năm công tội” lúc này khá muộn, vì từ khi cựu nhà báo Huy Đức giới thiệu nó tháng 10 năm ngoái đến nay, trên mạng bình luận đã nhiều. Nhưng mãi gần đây em mới đọc xong nên giờ mới có chút ý kiến được.
Cuốn này rất dễ mua ở Hà Nội. Nhưng nó không phải là 1 cuốn sách được xuất bản, có giấy phép xuất bản, có ghi thời điểm in xong và nộp lưu chiểu, có tên tác giả ở đầu, có giá tiền ở đuôi, có tên dịch giả vân vân như những quyển sách thông thường khác. Nó là “tài liệu tham khảo đặc biệt” của TTXVN được đóng dưới dạng 1 quyển sách. Những tài liệu dạng này, hồi em hành nghề gần phố Phan Huy Chú em cũng hay mua được ở 1 quầy báo, nghĩa là sách dành cho nội bộ nhưng ngoại bộ vẫn đọc được, số lượng sách đưa ra ngoài không nhiều nên chỉ sau một thời gian là hết. Đến cuốn của ông Tân Tử Lăng (tên tác giả chỉ được nhắc đến ở phần “cùng bạn đọc”) do dư luận quan tâm đặc biệt nên nó được đưa ra ngoài rầm rộ.
Vì nó chỉ là “tài liệu tham khảo” nên những người chủ trương dịch cuốn này không dịch đầy đủ tác phẩm của ông Tân Tử Lăng, họ chỉ dịch những nội dung mà họ cho là “đối tượng được tham khảo cần tham khảo”. Nên có chương dịch dài, có chương chỉ tóm tắt vài dòng, rõ nhất là chương 28 ở trang 147 “Mao Trạch Đông chơi trò chính trị lưu manh” chỉ có 2 câu thế này:
Chương này kể lại việc Mao Trạch Đông bức hại Bành Đức Hoài và Hạ Long, 2 vị nguyên soái từng lập công rất lớn trong chiến tranh giải phóng, là bạn chiến đấu trung thành của Mao. Khi đã quyết tâm mượn tay Hồng vệ binh đẩy 2 người vào chỗ chết thảm khốc, Mao vẫn giả dối tỏ ra quan tâm và tin cậy họ.
Vậy đối tượng cần tham khảo là ai? Theo em đó là các bạn trẻ từ thế hệ 8x trở đi. Vì đối với đối tượng già cũ như em, nội dung cuốn sách này, trừ phần lời kết hơi đặc biệt, còn lại gần như toàn bộ 244 trang đầu tiên chỉ toàn là những điều bọn em đã được đọc, được tuyên truyền thông qua hệ thống tuyên truyền chính phái của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam những năm 80. Cách mạng văn hóa tệ hại thế nào, những chính sách phiêu lưu của Mao làm dân Trung Hoa đói rét thế nào, Mao hãm hại Bành Đức Hoài, Lưu Thiếu Kỳ thế nào, chèn ép Chu Ân Lai thế nào, chơi Lâm Bưu ra sao, mụ Giang Thanh làm những trò gì, v.v, thế hệ Cavenui được biết thông qua đài ta chứ không phải đài địch, lề phải chứ không phải lề trái.
Một điều đáng chú ý là khi 2 vị chủ tịch Hồ, Mao còn sống, quan hệ giữa Bắc Kinh và Hà Nội trên bề mặt là cực kỳ thân thiện. Đối đầu công khai từ cuối thập niên 70 thì 2 vị chủ tịch ấy đều đã qua đời. Nhưng nếu như Bắc Kinh thông qua cái loa của Hoàng Văn Hoan chửi bới “tập đoàn Lê Duẩn phản bội lại đường lối cách mạng chân chính, phản bội lại chủ trương đoàn kết với Trung Quốc của Hồ chủ tịch” thì Hà Nội không hề chửi Đặng Tiểu Bình-1 người từng là nạn nhân của Mao và thực hành khá nhiều chính sách khác Mao là kẻ “phản bội lại đường lối cách mạng chân chính, phản bội lại chủ trương đoàn kết với Việt Nam của Mao chủ tịch” mà chửi luôn cả Mao. Có lý do ông Nixon ăn vịt quay dưới thời Mao, Trung Quốc chiếm Hoàng Sa dưới thời Mao, và cũng có lý do là Liên Xô-nước ủng hộ VN chống TQ, cực kỳ căm ghét Mao. Nhờ điều này mà thế hệ của Cavenui biết được nhiều điều lố bịch của chế độ Mao và Mao++, tóm lại là rất hay ho. (Đồng chí nhạc sĩ bạn nhờ ghi ké 1 câu: Không rõ nhờ chửi Mao mà trong cách điều hành xã hội có cởi mở hơn không, hehe, nhưng ít ra nhạc đỏ Việt Nam sau 79 bắt đầu tình tứ hơn, cho em khát khao anh khi mùa xuân về).
Chị gì Ngọc Bích phát biểu trên BBC rằng thế hệ 8x bị ảnh hưởng của tuyên truyền bài Hoa sâu đậm là rất sai, vì khi sự tuyên truyền này diễn ra trong những năm 80, các bạn 8x còn quá nhỏ. Không biết lề phải ngừng tuyên truyền chống bành trướng Bắc Kinh từ khi nào, chỉ biết khi em hồi hương năm 1993, báo chí ta viết về đảng CS Trung Quốc đã khá là thân thiện. Những điều bọn em biết, các bạn 8x ít có dịp được biết nếu chỉ đọc báo trong luồng, nên đối với họ, cuốn Mao Trạch Đông-ngàn năm công tội, ít nhiều cũng có giá trị tham khảo.
Những gì ông Tân Tử Lăng chửi Mao trong 244 trang đầu tiên của cuốn sách chính là những điều những người cộng sản ghét Mao, trong đó có cộng sản Việt Nam những năm 80, đã chửi Mao. Trừ 1 chỗ (do vậy em mới dùng từ “gần như toàn bộ 244 trang”). Đó là đoạn Tân Tử Lăng chửi Mao về quan hệ với Việt Nam, nhất là đoạn về Bạch Long Vĩ ở trang 55:
“Do nhu cầu đấu tranh chống địch trên vùng biển Vịnh Bắc Bộ, Mao Trạch Đông còn khinh suất cho Bắc Việt Nam sử dụng đảo Bạch Long Vĩ thuộc Hải Nam, trên đảo có 2.000 dân Trung Quốc sinh sống, vùng biển xung quanh là mỏ dầu lớn trữ lượng dồi dào. Đến nay lâu ngày qua đi, nảy sinh ý kiến khác về chủ quyền. Thế là tình hữu nghị “vừa là đồng chí, vừa là anh em” cũng không giữ nổi”.
Với đoạn này, lẽ ra các blogger ái quốc phải ghét ông Tân Tử Lăng hơn ông Mạc Ngôn mới phải?
Bỏ qua cái đoạn đó thì 244 trang đầu ông Tân chửi Mao với tư thế của 1 người cộng sản ghét Mao. Ông thường xuyên ca ngợi một số người cộng sản là nạn nhân của Mao, như Bành Đức Hoài, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình. Ở tận trang 244 ông còn ghi kết quả 1 cuộc thăm dò dư luận về những lãnh tụ đáng kính, theo đó Mao không đạt 2% phiếu bầu trong khi Chu Ân Lai được 100%, Đặng Tiểu Bình 97% số phiếu, rồi còn bình luận: “quần chúng nhân dân không lẫn lộn giữa Đảng Cộng sản và Mao Trạch Đông, không vì uy tín của Mao tụt mạnh mà lung lay niềm tin vào Đảng Cộng sản. 10 nhà lãnh đạo đáng kính nhất được lựa chọn đều là đảng viên cộng sản”.
Đùng một cái từ trang 245 trở đi ông Tân như bừng tỉnh chuyển sang ca ngợi dân chủ xã hội mới là đệ tử chân truyền của Marx, Engels, phê phán Lenin và quốc tế III là những người kế thừa chủ nghĩa Blanqui, dẫn chứng về sự thành công ở nhiều nước châu Âu khi dân chủ xã hội nắm quyền hoặc tác động được lên chính quyền v.v. Phần chửi Mao ở khúc đuôi này khác hẳn phần chửi Mao ở khúc đầu, vì không chỉ chửi ông Mao mà chửi cả chủ nghĩa mà những nạn nhân của Mao được ông Tân ca ngợi ở khúc đầu tin theo. Đoạn cuối khá hay, nhiều điều đáng tham khảo, nhưng sự chuyển gam từ trang 244 sang trang 245 chưa nuột lắm, không hiểu đó là do sự kém cỏi của ông Tân Tử Lăng hay của các dịch giả không nêu tên đây?
Và cuối cùng là
download bản tiếng việt đánh máy của Mõ Hà Nội
Nơi lưu giữ những cảm nhận sau khi đọc. Blog sẽ đủ các thể loại trừ truyện tranh và sách học
Thursday, May 13, 2010
Sunday, April 25, 2010
Bí mật của Nicolas Flamel bất tử

Bí mật của Nicolas Flamel bất tử
Tác Giả: Michael Scott
NXB Trẻ
Nicholas Flamel là một nhà giả kim, sinh vào năm 1330, nhờ học được phép thuật bất tử từ cuốn sách Codex của pháp sư Abraham, ông sống đến đầu thế kỷ XXI và gắn liền định mệnh của mình với sự tồn tại của Codex. Bọn Elder Đen Tối, thông qua tiến sĩ John Dee muốn đoạt lấy để đẩy loài người vào thời đại hồng hoang. Cuộc chiến đấu giữa Flamel Bất Tử và Dee Đen Tối diễn ra giữa thời đại của wifi, ipod, internet, laptop và điện thoại di động đã vô tình lôi cuốn sự tham gia của hai chị em sinh đôi Josh và Sophie Newman. Sự xuất hiện của 2 chị em khá trùng hợp với lời tiên đoán trong Codex đã có từ hàng nghìn năm trước của Abraham. Trong cuộc chiến đấu giữa Flamel Bất Tử và Dee Đen Tối, hai chị em, mà trước mắt là cô chị Sophie đã được đánh thức những năng lực tiềm ẩn. Nhờ sự đánh thức, Sophie đã hỗ trợ đắc lực cho Flamel trong việc chống lại bè lũ Elder Đen Tối thông qua bàn tay của Dee. Cuộc chiến đấu không cân sức giữa các thiện và điều ác, bước đầu trên đất Mỹ, phe thiện đã dành được thắng lợi và mở ra cuộc chiến đấu mới ở Paris, châu Âu. Đây là cuốn sách lần đầu tiên Nhà xuất bản Trẻ mua bản quyền từ bản thảo và sẽ phát hành bản tiếng Việt cùng với bản tiếng Anh và các ngôn ngữ khác đồng thời với 29 nước trên thế giới.
Cuộc chiến đấu giữa Nicholas Flamel và đệ tử với Tiến sĩ Dee và thế lực Elder Đen tối chuyển đến Paris và một buổi sáng. Ở đây, Josh và Sophie Newman được đánh thức để trở thành thế lực chiến đấu chống lại bọn Elder Đen tối.
Paris trong cuộc chiến đấu giữa Nhà giả kim và Elder Đen tối là một Paris cổ kính với nhiều bí ẩn mà người ta được dẫn dắt để biết về nó thông qua diễn tiến của cuộc chiến.
Josh đã được đánh thức. Tiến sĩ Dee và thế lực đen tối không làm gì được Nhà giả kim nhưng họ phải tìm đến London để tiếp tục sự nghiệp chiến đấu chống lại thế lực bóng tối.
háp sư Nicholas Flamel bất tử cùng với cặp song sinh Sophie & Josh Nowman đã được đánh thức một phần chuyển đến London để hoàn thành phần việc Đánh thức. Hành trình đến London để gặp vua Nước, Pháp sư cùng với cặp song sinh gặp sự săn đuổi, cản trở và tiêu diệt của các đồ đệ của Tiến sĩ Dee và các thế lực Elder Đen tối khác.
Cuối cùng thì Josh cũng được đánh thức với Pháp thuật Nước sau chặng đường chiến đấu ác liệt, hiểm nguy và nhiều thử thách.
Bên cạnh đó, nữ phù thủy Pen… - vợ của Flamel cũng đã giải thoát được mình khỏi nhà tù đảo Aleadraz ở ngoài khơi San Francisco và sắp sum họp cùng chồng và hai đứa trẻ.
Cuộc chiến đấu giữa gia đình người bất tử và cặp song sinh với các thế lực Elder Đen tối diễn ra trên diện rộng với nhiều thủ thuật được vận dụng linh hoạt làm tăng thêm sức hấp dẫn của bộ truyện.
=> Bộ truyện này xuất bản tập đầu tiên từ năm 2007 và đến hiện tại chỉ mới dịch xong 3 tập. Truyện cùng thể loại như Harry Porter, Charlie Bond. Truyện kể về những câu chuyện thần thoại nhưng diễn ra xung quanh cuộc sống đời thường của thế kỷ 21 với nội dung (hiện tại) đang xoay quanh "cặp song sinh truyền thuyết" được 2 vợ chồng nhà giả kim bất tử Nicolas phát hiện và giúp "đánh thức" những "quyền năng" của 2 chị em song sinh đồng thời cũng mang lại những rắc rối đi kèm..
Truyện ly kỳ, hấp dẫn, đáng đọc không hề thua kém 2 bộ truyện Harry Porter và Charlie Bond
Sunday, March 14, 2010
Biểu Tượng Thất Truyền - The Lost Symbol

Tác giả: Dan Brown. - Dịch giả: Nguyễn Xuân Hồng.
Nhà xuất bản: Nxb Hội Nhà Văn
The Lost Symbol (Biểu tượng thất truyền- đã từng được biết đến dưới cái tên Chìa khóa của Solomon dự kiến ra mắt từ năm 2007) là cuốn sách thứ 5 của Dan Brown vừa phát hành ngày 15.09.2009 trên toàn nước Mỹ được mong đợi như 1 tác phẩm bom tấn khác của Dan Brown sau Da Vinci Code (Mật mã Da Vinci) được bán 81 triệu bản trên toàn thế giới và Angels and Demons (Thiên thần và Ác quỷ).
Nội dung cuốn sách vô cùng ly kỳ, nhiều mật mã hóc búa và những tình tiết lắt léo khiến cho người đọc bị cuốn hút từ đầu tới cuối. Phần lớn bối cảnh truyện là ở Washington nhưng là một Washington hoàn toàn khác với những gì người ta biết tới. Tất cả những thư viện của Quốc hội, tới Trung tâm Lưu trữ Quốc gia, đài tưởng niệm Washington... đều là nơi chứa đựng những địa điểm bí mật đã tồn tại trước nước Mỹ mà chưa bao giờ được biết đến.
Câu chuyện mở đầu vào năm 1991, một văn kiện bí mật bị khóa kín trong két sắt giám đốc CIA. Nó vẫn nằm yên đó đến ngày nay...
In liền 6 triệu bản ngay trong lần ấn hành thứ nhất tại Mỹ…
Bán hết veo 1 triệu chỉ trong buổi phát hành đầu tiên…
Robert Langdon cùng chuyến phiêu lưu vào những bí mật xa xưa lại lập đỉnh mới về kỷ lục xuất bản, tiếp tục tạo sóng thần làm nghiêng ngả thị trường sách thế giới. Không chỉ là nguồn cảm hứng dồi dào cho muôn lời tán tụng, Biểu tượng Thất truyền còn khẳng định sức thu hút, độ thành công bằng những thành tích ngoạn mục hơn nhiều, chẳng hạn liên tục dẫn đầu bảng xếp hạng best seller của New York Times từ lúc sách chưa phát hành cho đến tận hôm nay, luôn được săn đón ráo riết trên Amazon, chưa kể bản quyền điện ảnh chuyển cho Columbia Pictures từ lúc sách mới ráo mực in đang thách thức mọi cuộc vượt rào về doanh thu phòng vé...
Được Dan Brown thai nghén suốt 5 năm, Biểu tượng Thất truyền là sự phối kết hoàn hảo giữa hư cấu và thực tế, khoa học và đức tin, mật mã và giải mã. Sau Vatican, Illuminati trong Thiên thần và Ác quỷ, sau hành trình theo Chén Thánh trong Mật mã Da Vinci, lần này Dan Brown thả sức sáng tạo vô tận vào chiều sâu bí ẩn của Hội Tam điểm, một hội kín có lịch sử lâu đời. Theo đó, hành trang phiêu lưu của Robert Langdon sẽ mở rộng từ khoa Ký tượng học sang Lý trí học, sang những khám phá mới nhất về sức mạnh tinh thần của loài người, thứ sức mạnh có thể biến đổi toàn bộ cấu trúc vật chất chỉ bằng vài ba ý nghĩ.
*Theo tintucOnline
Một đô la Mỹ là tờ bạc phổ biến nhất Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Trên tờ bạc này đầy ắp những biểu trưng và ám thị của số bí thuật, chẳng hạn Kim tự tháp Dang dở, con mắt Thông huyền, số 13 xuất hiện dày đặc: 13 ngôi sao trên đầu đại bàng, 13 tầng kim tự tháp, 13 vạch ngang trên tấm khiên, 13 nhành và 13 quả trên khóm ô liu, 13 mũi tên trong một bó, rồi cả hai dòng chữ La tinh Annuit Coeptis và E Pluribus Unum đều gồm 13 ký tự.
Số 13 cùng con mắt Thông huyền là những hình ảnh gây liên tưởng đến hội Tam điểm. Lâu nay, người ta vẫn đồn đại George Washington, Tổng thống đầu tiên của nước Mỹ là thành viên của hội. Nhiều người theo thuyết hoài nghi còn xì xào rằng Hội Tam điểm nắm giữ ảnh hưởng quan trọng đối với nước Mỹ thời kỳ đầu. Họ đặt ngôi sao sáu cánh lên dấu Quốc ấn Hoa Kỳ rồi trỏ ra rằng đỉnh ngôi sao trùng với con mắt thông huyền… và, thật quái lạ, năm cánh còn lại trỏ đúng các chữ cái M-A-S-O-N (Hội Tam điểm).
Hội Tam điểm là tổ chức bí ẩn nhất thế giới, cuốn theo quanh mình vô vàn ám tượng và truyền thuyết. Hình ảnh thì phô trương, nhưng hoạt động thì giấu kín. Hội viên có thể tự công khai, nhưng cách thức kết nạp thì ém nhẹm. Trong Biểu tượng Thất truyền, các chi tiết về Hội Tam điểm được thuật lại với ít nhiều kinh dị: người gia nhập phải đeo thòng lọng, mình vận bộ áo tử tù thời Trung cổ, bưng chiếc sọ người đựng đầy rượu vang màu đỏ máu, tuyên thệ rồi uống thứ rượu đó sau khi nghe những lời cảnh báo đầy đe dọa về cực hình và trả giá. Ngay cả cách tĩnh tọa của Hội Tam điểm cũng tỏ ra rất bất bình thường, hội viên trầm tư mặc tưởng trong phòng Suy niệm nồng nặc mùi lưu huỳnh và trang hoàng toàn đầu lâu, xương người, lưỡi hái … Hàng lô chi tiết tương tự khiến người ta liên hệ Hội Tam điểm với một nhóm tà giáo hơn là ái hữu.
Tuy vậy theo Robert Langdon, Hội Tam điểm lại cũng là tổ chức bị nghi oan nhiều nhất trên thế giới. Đồng hành cùng nhà Ký tượng học quen thuộc này vào Biểu tượng Thất truyềnThiên thần và Ác quỷ và Mật mã Da Vinci) người đọc dễ dàng chứng thực nhận định trên. Mở đầu bằng Hội Tam điểm, kết thúc cũng bằng Hội Tam điểm, Biểu tượng Thất truyền là cuộc chu du vào lòng tổ chức lâu đời, vào đủ mọi mặt từ lịch sử, cơ cấu đến các lễ nghi, tư duy của họ. Từ điểm đầu đến điểm cuối, thời gian thực tế chỉ vỏn vẹn mười hai tiếng, địa điểm thực tế chỉ khoanh vùng ở Thủ đô Washington, nhưng không gian và thời gian tiểu thuyết xây dựng trên ký ức và trên hoạt động tinh thần của nhân vật lại bao trùm cả chiều dài lịch sử, triết học, tôn giáo, nghệ thuật, giả kim và lý luận, của cả thủ đô và đất nước. (chuyến phiêu lưu thứ ba của anh sau
7 giờ tối Chủ nhật, Robert Langdon tới Điện Capitol để làm diễn giả cho buổi họp mặt của một viện khoa học, nhưng thay vì những cử tọa tinh túy, anh chỉ gặp một bàn tay cụt rỉ máu. Bàn tay này, với ngón cái và ngón trỏ duỗi hướng lên trên, là hình ảnh trực quan của Mật thủ trong truyền thuyết. Lần lại gốc tích của Mật thủ là lần lại cả một quá khứ khát khao tri thức thời cổ đại. Và lần theo con đường mở ra từ Mật thủ, là tiến tới cả một tương lai chông chênh của tư duy con người.
Sự hấp dẫn ở một tác phẩm trinh thám phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Đối với Dan Brown, điều thúc đẩy các độc giả đọc ngấu nghiến tác phẩm của ông không phải là kết quả tối hậu (thường là một thực tế giản dị đến khó tin), mà là ở nút thắt tinh vi và cách phá giải xảo diệu, hai yếu tố này cộng sinh, lồng hết bí ẩn hư cấu nọ vào bí ẩn hư cấu kia, tạo ra một ma trận mê hồn giam hãm phán đoán. Trong Biểu tượng Thất truyền, buộc nút và cởi nút là phương tiện thể hiện rõ nhất công phu nghiên cứu của Dan Brown, ông giới thiệu và minh bạch hóa đủ mọi ám thị và biểu tượng trong rất nhiều lĩnh vực như giả kim, triết học, tôn giáo, chính trị, ngôn ngữ, hội họa… từng tình tiết đều gây nên ở người đọc sự tò mò cũng như ngỡ ngàng cao độ. Tò mò vì bí mật, và ngỡ ngàng vì bí mật đó vẫn luôn hiển hiện quanh mình.
Chẳng hạn, đã bao giờ bạn biết rằng theo Newton, nhiệt độ sôi là 33° chứ không phải 10°? Đã bao giờ bạn biết rằng có thể cân đo linh hồn con người?
Đã bao giờ bạn nhận thấy trên bức Melencolia I có một ma phương mà cứ nhóm bốn là được cùng một tổng, bất kỳ vị trí nào?
Và đã bao giờ bạn nghĩ rằng chính bản thân bạn là một đức Chúa toàn năng?
***
Báo chí ca ngợi Biểu tượng Thất truyền là cuộc khám phá những bí mật cổ kim, là chuyến du ngoạn vào chiều sâu suy luận, là cuốn Bách khoa thư về kiến thức và là văn phẩm hấp dẫn vì tính gay cấn điện ảnh.
Nhưng hơn hết thảy, Biểu tượng Thất truyền là một hành trình hồi tưởng và truy nguyên. Điều này biểu hiện rất rõ trong hai chi tiết tưởng chừng độc lập. Một là ham muốn chuyển thân của Mal’akh. Hai là nghiên cứu của Katherine về Lý trí học.
Mal’akh lớn lên trong giàu sang. Mọi ham muốn vật chất và nhục thể của gã đều được đáp ứng tới mức dư thừa. Nhưng một ngày kia, khi lòng manh nha nỗi buồn chán về lối sống hưởng thụ vô bổ, gã bắt đầu tìm kiếm ý nghĩa nhân sinh và xác định mục đích cuộc đời bằng con đường mở mang kiến thức. Ở khía cạnh nào đó, người đọc sẽ gặp lại bóng dáng Faust của Goethe trong Mal’akh của Dan Brown, cảm nhận mong muốn vươn cao vươn xa, khát vọng vượt khỏi khả năng hữu hạn để đưa trí tuệ lên tri thức vô hạn, lên đỉnh thang làm chủ vận mệnh bản thân của con người. Vòng tròn trơn trên đỉnh đầu Mal’akh là biểu hiện hữu hình của mong muốn, của khát vọng ấy, đồng thời chứng tỏ rằng qua nhãn quan của gã, tri thức có sức mạnh vô song, đủ khả năng giúp người ta hoán cốt thoát thai, biến phàm nhân trở thành thiên chúa.
Nghiên cứu của Katherine là Lý trí học - tên gọi mô tả phần lớn nội dung. Qua lời Robert Langdon, Dan Brown úp mở từ đầu sách rằng Lý trí học gần gũi phép thuật hơn là khoa học. Thực chất, Lý trí học khám phá những quyền năng đặc dị của tinh thần con người, chẳng hạn dùng ý chí để thay đổi kết cấu vật chất hay biến cải một sự kiện khách quan. Ví dụ, việc cầu nguyện tập thể có thể giúp người bệnh khỏe lại, tinh thần vui tươi của cả thế giới có thể giảm trừ khủng bố hay chiến tranh…
Tuy khác nhau về cách thức nâng cao giá trị tồn tại của con người, Mal’akh và Katherine lại có điểm chung là cùng ý thức được năng lực tinh thần, đồng thời biết tái khám phá những phát hiện của các thế hệ trước về năng lực ấy. Mal’akh vận dụng mọi nghi thức và phép thuật xa xưa để tìm ra nguồn năng lượng trí tuệ lâu đời. Katherine nghiên cứu các học giả cổ đại và tìm cách chứng minh lý thuyết của họ. Những cố gắng của Mal’akh và Katherine là lời nhắc nhở thế nhân về những điều họ đã bỏ qua trong quá khứ. Hơn lúc nào hết, đồng hành với những phát minh tương lai, con người cũng cần chấn hưng hiểu biết và tận dụng thành tựu của tiền nhân trước khi chúng trở nên thất truyền mãi mãi.
Hai chi tiết này, vô hình trung lại củng cố cho một mạch ngầm quán xuyến toàn bộ tác phẩm, đó là cuộc theo đuổi tri thức siêu tự nhiên với ước mong vượt lên bản thể. Tri thức ấy cất giấu dưới đáy Kim tự tháp Tam điểm. Kim tự tháp chôn dưới chân một cầu thang. Cầu thang ẩn mình trong lòng đất Washington D.C. Vị trí lòng đất ấy được ghi chép trong một tài liệu mật. Và tài liệu mật này lại nằm trong két sắt khóa kín của Giám đốc Cục Tình báo Trung ương.
Đọc Biểu tượng Thất truyền đồng nghĩa với tận hưởng lạc thú bất tận về tư duy. Không chỉ là bậc thầy quan sát và mách bảo người đọc về những bí mật trong thế giới xung quanh, Dan Brown còn có biệt tài biến chính tác phẩm của mình thành tập hợp câu đố đầy kích thích.
Chẳng hạn, trong cuốn Biểu tượng Thất truyền, tên Washington được nhắc đến đúng 111 lần, 111 là con số quan trọng trong một ma phương xây dựng trên bức Melencolia I của Albrecht Durer. Tên của nhân viên Nola Kaye là đảo chữ từ tên Elonka Dunin, chuyên gia hàng đầu về tuyệt phẩm Kryptos trong khuôn viên CIA. Biểu tượng Thất truyền ra mắt ngày 15/9/2009, tổng là số thiêng 33 của Hội Tam điểm. Tác giả ăn theo Dan Brown là Dan Burstein tiết lộ: “Tôi bắt đầu nghiên cứu Biểu tượng Thất truyền sáu năm về trước, lúc Brown chưa viết một chữ nào cho cuốn tiểu thuyết mới này. Khi đọc Mật mã Da Vinci, chúng tôi phát hiện ra rằng áo bìa của nó chứa những ký tự đậm rất lạ lùng. Chúng tôi xâu chuỗi các ký tự ấy lại, và được một câu rằng: Có hay không, sự hỗ trợ cho con trai bà góa? Tiếp tục bóc tách ý nghĩa của câu hỏi đó (một ám hiệu rất quan trọng trong Hội Tam điểm), chúng tôi đi đến kết luận rằng cuốn tiểu thuyết tiếp theo của Brown sẽ là về Hội Tam điểm và sẽ được lấy bối cảnh ở Washington, D.C.”.
Lần này, ở bìa ấn bản Biểu tượng Thất truyền tiếng Anh, Dan Brown còn cho in một ma phương như sau: Y U O EM S T DI I N HR E K Y
Sử dụng chìa khóa giải mã trong bức Melenconia I của Albrecht Durer, chúng ta sẽ tìm được câu Your mind is the key (Chìa khóa nằm trong chính bạn). Đó có thể là thông điệp đúc kết cuốn Biểu tượng Thất truyền, mà cũng có thể là manh mối cho cuốn sách tiếp theo của Dan Brown. Chỉ biết rằng, đặt cuốn sách xuống rồi, mà suy luận của người đọc vẫn còn hoạt động chưa thôi.
Một trong những lý luận được Dan Brown đề cao qua Biểu tượng Thất truyền là sức mạnh của ý chí. Dựa trên nghiên cứu của nhà Lý trí học Lynne McTaggart, Brown ủng hộ quan điểm cho rằng khi nhiều người cùng chung một ý niệm, thì ý niệm này có thể sản sinh ra một hiệu ứng vật lý nào đó.
Trước sự xuất hiện của Biểu tượng Thất truyền tại Việt Nam vào ngày 11 tháng 3 năm 2010, liệu sự chú ý cùng lúc của vô vàn người hâm mộ, người mê giải mã, người ham lý luận theo thuyết âm mưu và cả những người ưa xét nét sẽ gây nên một hiệu ứng thế nào đây?
=> Đây là tác phẩm thứ 5 của Dan Brown, được các nhà sách thông tin rất kỹ đến người đọc trước khi phát hành cả tháng khiến nhiều người tò mò chờ đợi ngày ra mắt. Truyện vẫn tiếp tục cấu trúc đi tìm "một cái gì đó bí ẩn" thông qua các chuỗi mật mã, rồi người chết và không thể thiếu tính bất ngờ của chuỗi sự kiện (tuy nhiên nếu người đọc nào tinh ý một xíu sẽ thấy có một lỗ hỗng trong logic giữa truyện và qua đó sẽ thấy không quá bất ngờ khi đọc đến phần cuối). Cũng như các tác phẩm trước, nội dung của truyện cũng sẽ cho người đọc thêm các kiến thức hay nghi ngờ về những gì được cho là hiển nhiên, sự thật hay những thí nghiệm bí ẩn... và đây cũng chính là điều thu hút người đọc qua các tác phẩm của Dan Brown.
Bản dịch tiếng việt thì không có free, phải mua để ủng hộ các NXB nữa chứ. Còn bản english thì download ở đây.
Trong bản dịch đầu tiên này thì có 2 lỗi (1 nghiêm trọng và 1 chính tả). Lỗi nghiêm trọng là trong khối vuông Durer thì tổng là 34 thay vì 44 như bản dịch..lỗi chính tả thì không quan trọng lắm, chỉ nhầm chữ n thành m thôi (trang 364), duy nhất 1 lần.
Thursday, February 18, 2010
DUNE - Xứ Cát

Tác giả: Frank Herbert. - Dịch giả: Trần Tiễn Cao Đăng.
Nhà xuất bản: Nxb văn học
Một thời điểm rất xa trong tương lai…
Từ đời này sang đời khác, người Fremen trên hành tinh sa mạc lưu truyền lời tiên tri về một đấng cứu tinh sẽ dẫn dắt họ giành lấy tự do đích thực…
Từ thế hệ này sang thế hệ khác, những nữ phù thủy Bene Gesserit mỏi mòn chờ đợi sự xuất hiện của một B.G. nam giới duy nhất, người có thể vượt qua mọi giới hạn không gian - thời gian…
Là Lisal al-Gaib của người Fremen, là Kwisatz Haderach của học viện Bene Gesserit, chàng công tước trẻ tuổi Paul Atreides đã làm tất cả những gì có thể để thay đổi định mệnh đó. Cha bị giết chết, mẹ bị cho là kẻ phản bội, gia tộc bị tàn sát, bản thân bị săn đuổi đến đường cùng, Paul đơn độc dấn thân vào một cuộc phiêu lưu sinh tử, không hề biết rằng mỗi hành động của mình sẽ góp phần quyết định vận mệnh của cả thiên hà. Sa mạc Arrakis khắc nghiệt tưởng như sẽ là nơi chôn vùi vĩnh viễn vinh quang của gia tộc Atreides, nhưng hóa ra lại thành điểm khởi đầu cho một huyền thoại mới…
Là một trong những cuốn tiểu thuyết khoa học giả tưởng bán chạy nhất mọi thời đại, Xứ Cát không chỉ là lựa chọn đối với những tín đồ của Chúa nhẫn, Chiến tranh giữa các vì sao… mà còn chinh phục độc giả đủ mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp và sở thích bởi sự đa dạng và phức tạp của con người và không gian trong truyện, bởi sự tinh tế trong xây dựng tâm lý, bởi sự hấp dẫn, căng thẳng và bất ngờ của cốt truyện, bởi sự độc đáo và thú vị của khối lượng kiến thức khổng lồ cũng như bởi sự hấp dẫn trong những tư tưởng về tôn giáo, về tự do, về tình yêu, về sự sống và cái chết…
Theo Báo Lao Động
“Xứ Cát": Cột mốc của tiểu thuyết khoa học thế kỷ 20(Thứ tư, 29/04/2009 09:47:24 AM)
Xứ Cát (Dune) xuất bản lần đầu năm 1965, thành quả suốt 6 năm nung nấu của tác giả Frank Herbert. Năm 1959, ông bay tới phía bắc bang Oregon, nơi có những cồn cát nổi tiếng để tìm cảm hứng, và rồi ông bị cuốn hút vào hệ sinh thái xứ cát, dành liền năm năm tìm hiểu cặn kẽ.
Tất cả những điều này được ông lấy làm cơ sở chính cho Xứ Cát, vốn đăng nhiều kỳ trên tạp chí Analog theo 2 phần: Dune World (Thế giới cát) và The Prophet of Dune (Nhà tiên tri xứ cát), trước khi được tập hợp, chỉnh sửa thành một tác phẩm hoàn chỉnh.
Từ khi mới xuất bản, cuốn sách luôn thu hút đông đảo độc giả, cho đến nay nhiều triệu bản Xứ Cát đã đến tay bạn đọc biến tác phẩm trở thành “một trong những cuốn tiểu thuyết khoa học bán chạy nhất mọi thời đại”.
Ngay từ khi còn nhỏ, Paul Atreides luôn thể hiện khả năng dự báo tương lai, đường đời của chàng công tước trẻ đầy chông gai: cha bị chết trong tay kẻ thù, gia tộc tan vỡ, bản thân và mẹ bị bắt rồi lạc vào sa mạc mênh mông nhưng tự mình đứng dậy viết lên một huyền thoại mới cho gia tộc Atreides – trở thành nhà tiên tri Muad’Dib “lãnh tụ tinh thần” của người Fremen.
Lần lượt hạ gục mọi kẻ thù, Paul từng bước ngồi lên ngôi vị tối cao của cả thiên hà, mở ra một giai đoạn mới rực rỡ cho hành tinh Arrakis, xứ cát quê hương chàng…
Với Xứ Cát, Frank Herbert vẽ lên một miền cát Arrakis đầy bí ẩn và quyến rũ. Ở đó có nền khoa học kỹ thuật phát triển với tàu chim, máy tính – người Mentat, súng laze những vẫn đầy hoang sơ với những sinh vật đáng sợ như sâu cát. Ở đó có những mưu toan đấu đá giữa các gia tộc Atreides, Harkonnen, Corrino, và học viện Bene Gesserit; nhưng ở đó cũng toát lên nét thuần hậu của người Fremen và tình cảm chân thành giữa con người với nhau.
Không từ ngữ hoa mỹ, Xứ Cát được kết hợp từ những câu ngắn, khúc chiết, làm bật lên bản hợp xướng về chủ nghĩa anh hùng. Các nhân vật, sự kiện trong truyện được Frank Herbert khắc họa bằng lối viết dồn dập, từng phân đoạn nối nhau thành chuỗi. Xứ Cát Dune tuy là một hành tinh xa xôi trong vũ trụ xa thẳm và huyền bí nhưng tất cả những tư tưởng về tôn giáo, về tự do, về tình yêu, về sự sống và cái chết của nó khiến người đọc cảm thấy vô cùng gần gụi.
Xứ Cát giành giải Nebula cho tiểu thuyết khoa học giả tưởng xuất sắc nhất vào năm 1965, một năm sau - năm 1966 - tiếp tục giành giải thưởng Hugo danh giá. Năm 1984, tác phẩm được đạo diễn gạo cội David Lynch dựng thành phim đạt thành công vang dội, năm 2000 đạo diễn John Harrison một lần nữa tái hiện Xứ Cát trên màn ảnh, và năm 2008, hãng Paramount Pictures quyết định đầu tư kinh phí cho Peter Berg làm lại bộ phim này.
Xứ Cát cũng nhiều lần được chuyển thể thành sách audio, truyện tranh, thậm chí gợi cảm hứng cho ban nhạc Rock Iron Maiden viết lên ca khúc “To Tame A Land” (Tạm dịch: Thần phục một vùng đất).
V.A
=> dù được khen là tiểu thuyết khoa học giả tưởng lớn nhất mọi thời đại nhưng thật sự tớ không thấy lôi cuốn lắm khi đọc tác phẩm này
Tuesday, January 19, 2010
Hồ Sơ Quyền Lực Mao Trạch Đông

Hồ Sơ Quyền Lực Mao Trạch Đông
Tác giả: Shaun Breslin. Nguyễn Hữu Quang.
Nhà xuất bản: Nxb Tri Thức
Số trang: 336
Ngày xuất bản: 10 - 2009
Nhận xét của Alpha book
Nhắc đến lịch sử hiện đại của Trung Quốc, không thể không nói đến Mao Trạch Đông. Cùng với Tôn Trung Sơn, Tưởng Giới Thạch, và sau này là Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình, Mao Trạch Đông là một trong những nhân vật then chốt nhất làm nên lịch sử hiện đại của Trung Quốc.
Mao Trạch Đông hiệu là Nhuận Chi , sinh ngày 26 tháng 12 năm 1893, mất ngày 9 tháng 9 năm 1976, là Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc từ năm 1943 đến khi qua đời. Dưới sự lãnh đạo của ông, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã giành thắng lợi trong cuộc nội chiến với Quốc dân Đảng, lập nên nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày 1 tháng 10 năm 1949.
Mao Trạch Đông thường được gọi tôn kính là Mao Chủ tịch. Vào thời đỉnh cao của sự sùng bái cá nhân, Mao được tôn là người có bốn cái “vĩ đại”: Người thầy vĩ đại, Lãnh tụ vĩ đại, Thống soái vĩ đại, Người cầm lái vĩ đại.
Mao đã tạo ra một thứ Chủ nghĩa Mác-Lênin mang màu sắc Trung Hoa vẫn được gọi là Chủ nghĩa Mao, mà ngày nay, Ban lãnh đạo Trung Quốc gọi là tư tưởng Mao Trạch Đông. Dưới thời ông, nông nghiệp Trung Quốc được tập thể hóa dưới hình thức công xã nhân dân, nhưng chính sách Đại Nhảy Vọt trong kinh tế đã để lại những hậu quả tai hại. Mao cũng là người phát động Đại Cách mạng Văn hóa Vô sản, thường gọi là Cách mạng Văn hóa.
Mao được đánh giá là nhân vật có công lớn trong công cuộc giải phóng và đưa Trung Quốc thoát khỏi ách áp bức của ngoại bang kể từ cuộc Chiến tranh Nha phiến cuối thế kỷ XIX, nhưng cũng bị chỉ trích về trách nhiệm trong nạn đói 1959-1961 và những tai họa do Cách mạng Văn hóa gây ra.
Bất chấp những sai lầm để lại hậu quả to lớn như Đại Nhảy Vọt, Cách mạng Văn hóa, thì tài năng lãnh đạo, tầm nhìn chiến lược, sức làm việc phi thường, khả năng thuyết phục và lôi cuốn nhân dân của Mao Trạch Đông là điều không thể phủ nhận. Từ địa vị xuất thân và học vấn thấp, trải qua những biến động, những tranh đấu với Tưởng Giới Thạch và nhiều nhân vật kiệt xuất khác trong nội bộ Đảng Cộng sản, để rồi trở thành lãnh tụ của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, cả cuộc đời Mao thật sự là một huyền thoại, một câu chuyện phi thường, với những hành động phi thường mà một cá nhân có thể làm được.
Là lãnh tụ của một quốc gia rất gần gũi, gắn bó với nhân dân Việt Nam về mặt địa lý, văn hóa, lịch sử và rất nhiều mối nhân duyên ràng buộc, cuộc đời và sự nghiệp của một con người như Mao Trạch Đông có sức hấp dẫn vô cùng to lớn đối với tất cả chúng ta. Đây không phải là cuốn sách đầu tiên về Mao, cũng có thể không là cuốn sách hay nhất, đầy đủ nhất về ông… nhưng AlphaBooks lựa chọn dịch và xuất bản cuốn sách Mao Trạch Đông này của Tập đoàn xuất bản Pearson trong tủ sách Hồ sơ Quyền lực cùng với các nhân vật như Alexander Hamilton − kiến trúc sư của nền tài chính kinh tế Mỹ, Kennedy, Gorbachev, Younger Pitt − Thủ tướng Anh trẻ nhất trong lịch sử…
Chúng tôi mong muốn bộ sách này sẽ cung cấp cho độc giả Việt Nam những thông tin hữu ích, những bài học xương máu và cả những niềm tin, ước mơ, ý chí hành động, tầm nhìn, những sai lầm của các nhân vật lịch sử làm bài học cho chúng ta.
Mục lục
Giới thiệu
Chương 1: Từ nông dân thành vĩ nhân
1. Những nhân tố hình thành nhà cách mạng
2. Trung Hoa thời kỳ Mao còn nhỏ
3. Hoạt động và ảnh hưởng chính trị của Mao trong thời kỳ đầu
4. Từ phong trào ngũ tứ đến chủ nghĩa Mác
5. Quốc tế cộng sản, Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc
6. Giang Tây Xô Viết
7. Sự sụp đổ của Cộng hòa Trung Nga (Giang Tây Xô Viết) và cuộc Vạn lý trường chinh
8. Chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa cộng sản ở Diên An
9. Nắm chính quyền
Chương 2: Thiết lập trật tự chính trị mới: Chủ nghĩa Mao và những người chỉ trích
10. Lãnh đạo Trung Hoa: Những hạn chế về quyền lực của Mao
11. Chủ nghĩa Mao và chủ nghĩa Lênin: Nguyên nhân cơ bản dẫn đến xung đột chính trị tại Bắc Kinh
12. Nguyên tắc lý luận của Mao Trạch Đông
13. Quan điểm chính trị của Mao: Sự sáng suốt cách mạng hay hệ tư tưởng chính trị giáo điều
14. Tư tưởng Mao hay chủ nghĩa Mao?
15. Chia rẽ đảng ở Trung Hoa và các nguồn quyền lực
Chương 3: Chia rẽ lần thứ nhất (1949-1957)
16. Tái thiết nông thôn
17. Tranh luận về tập thể hóa
18. Chiến dịch trăm hoa đua nở
19. Chính sách Đại Nhảy Vọt
20. Từ Đại Nhảy Vọt đến nạn đói
21. Xóa bỏ Đại Nhảy Vọt
Chương 4: Hướng tới Cách mạng Văn hóa
22. Giáo dục chủ nghĩa xã hội và Cách mạng Văn hóa
23. Xây dựng cơ sở quyền lực thay thế
24. Sùng bái cá nhân và xã hội hóa chính trị
Chương 5: Thực hiện Cách mạng Văn hóa 208
25. Cách mạng Văn hóa bùng nổ: Tranh cãi về văn học nghệ thuật
26. Cách mạng Văn hóa thoái trào và sự thất sủng của Lâm Bưu
Chương 6: Mao và thế giới 241
27. Chính sách đối ngoại của Mao và xung đột chính trị trong nước
28. Từ liên minh Trung - Xô tới chia rẽ Trung - Xô
29. Ngả về phía Washington
30. Hiểu rõ Mao và thế giới
Chương 7: Chính sách bài Mao
=> một cuốn sách hay, hấp dẫn người đọc và để lại ấn tượng sau khi đọc là một hình tượng Mao Trạch Đông kiên định với những ý tưởng của mình, những ai ủng hộ thì sử dụng, và ngược lại, những ai có ý kiến phản bác, chống đối ông thì có cơ hội ông sẽ thanh trừng. Tuy nhiên, những gì ông làm cũng xuất phát từ việc muốn bảo đảm cho những tư tưởng của mình sẽ trường tồn dù ông không còn nữa.
Dù sách rất hay nhưng có vài hạt sạn như việc có một số đoạn bị in trùng lặp, không biết do lỗi xuất bản hay sách bị lỗi (sách mình mua có tem alpha book mà hichic..)
Monday, November 30, 2009
MẬT MÃ TỪ CỔ ĐIỂN ĐẾN LƯỢNG TỬ - Simon Singh

Tác giả: Simon Singh.
Dịch giả: Phạm Vǎn Thiều. Phạm Thu Hằng.
Nhà xuất bản: Nxb Trẻ
Số trang: 492
Hình thức bìa: Bìa mềm
Kích thước: 14.5x20.5 cm
Ngày xuất bản: 07 - 2008
Trọng lượng: 600 gram
Giá bìa: 89.000 VNĐ
“Trong hàng ngàn năm, vua chúa cũng như các tướng lĩnh đều dựa vào mạng lưới thông tin liên lạc hiểu quả để cai trị đất nước và chỉ huy quân đội của mình. Đồng thời, tất cả họ đều ý thức được những hậu quả của việc để lọt thông tin của mình vào tay đối phương, để lộ những bí mật quý giá cho các nước thù địch cũng như hậu quả của sự phản bội cung cấp thông tin sống còn cho các lực lượng đối kháng. Chính nỗi lo sợ bị kẻ thù xem trộm đã thúc đẩy sự ra đời và phát triển của mật mã: đó là những kỹ thuật nhằm che giấu, ngụy trang thông tin, khiến cho chỉ những người cần được nhận mới có thề đọc được.
Mong muốn giữ bí mật đã khiến các quốc gia thiết lập những cơ quan mật mã, có nhiệm vụ đảm bảo an toàn cho thông tin liên lạc bằng việc phát mình và sử dụng những mật mã tốt nhất có thể được. Trong khi đó, những người phá mã của đối phương cũng lại cố gắng để giải mã và đánh cắp những bí mật. Người giải mã là những nhà “giả kim thuật” về ngôn ngữ, một nhóm người bí ẩn chuyên tìm cách phỏng đoán những từ ngữ có nghĩa từ những ký hiệu vô nghĩa. Lịch sử của mật mã là câu chuyện về cuộc chiến kéo dài hàng thế kỷ giữa người lập mã và người giải mã, cuộc chạy đua vũ khí trí tuệ đã có tác động rất to lớn đến tiến trình của lịch sử.
Khi viết cuốn Mật mã này, tác giả có hai mục đích chính. Một là nhằm phác họa sự tiến hóa của mật mã. Từ tiến hóa dùng ở đây là hoàn toàn thích hợp vì sự phát triển của mật mã cũng có thể coi là một cuộc đấu tranh tiến hoá. Một mật mã luôn bị người phá mã tấn công. Khi người phá mã đã tìm ra một vũ khí mới để phát hiện điểm yếu của một mật mã thì mật mã đó không còn hữu dụng nữa. Khi đó hoặc nó sẽ bị xoá sổ hoặc nó sẽ được cải tiến thành một loại mật mã mới, mạnh hơn. Đến lượt mình, mật mã mới này chỉ phát triển mạnh mẽ cho tới khi người phá mã lại xác định được điểm yếu của nó, và cứ tiếp tục mãi như vậy. Điều này cũng tương tự như tình huống đối mặt với một giống vi khuẩn gây bệnh chẳng hạn. Vi khuẩn sống, phát triển mạnh và tồn tại cho đến khi bác sĩ tìm ra chất kháng sinh làm lộ ra những điểm yếu của vi khuẩn và tiêu diệt nó. Vi khuẩn buộc phải tiến hoá và lừa lại kháng sinh, và nếu thành công thì chúng sẽ lại phát triển mạnh mẽ và tái xác lập trở lại. Vi khuẩn liên tục bị buộc phải tiến hoá để sống sót trước sự tấn công dữ dội của các loại kháng sinh mới.
Cuộc chiến liên miên giữa người lập mã và người phá mã đã thúc đẩy hàng loạt những đột phá khoa học đáng kể. Người lập mật mã đã liên tục cố gắng xây dựng những loại mã mạnh hơn bao giờ hết để bảo vệ thông tin, trong khi những người phá mã cũng lại kiên trì tìm ra những phương pháp mạnh hơn nữa để phá vở chúng. Trong những cố gắng nhằm phá vỡ và bảo vệ thông tin bí mật, cả hai phía đã phải huy động nhiều lĩnh vực chuyên môn và công nghệ khác nhau, từ toán học cho tới ngôn ngữ học từ lý thuyết thông tin cho đến lý thuyết lượng tử. Đổi lại, những người lập mã và phá mã cũng đã làm giàu thêm cho những lĩnh vực này và thành quả của họ đã đẩy nhanh tốc độ phát triển cộng nghệ, mà đáng kể nhất là trong lĩnh vực máy tính hiện đại…”
Mục lục:
Mở đầu
Bản mật mã của nữ hoàng Mary xứ Scotland
Le Chiffre Indécheffable
Cơ giới hoá việc giữ bí mật
Công phá Enigma
Rào cản ngôn ngữ
Alice và Bob ra công khai
Riêng tư tốt đẹp
Bước nhảy lượng tử vào tương lai
Trong lịch sử nhân loại đã xảy ra những cuộc chiến tranh tàn khốc, như hai cuộc thế chiến đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, bên cạnh những cuộc chiến bên ngoài chiến trường, thì ẩn bên trong nó lại là một cuộc chiến khác: cuộc chiến về thông tin. Đã có truyền tin thì tất nhiên cần phải có yêu cầu giữ bí mật. Thế là ngành khoa học mật mã (cryptography) ra đời để phục vụ cho yêu cầu đó.
Cuốn sách “Mật mã” (The Code Book) sẽ dẫn dắt chúng ta nhìn lại lịch sử dưới góc nhìn của mật mã học. Cuốn sách bắt đầu bằng những dạng mật mã đơn giản nhất ra đời từ cuối thế kỷ 16 và kết thúc ở cuối thế kỷ 20 bằng việc giới thiệu về ý tưởng mật mã lượng tử, một loại mật mã được cho là bất khả chiến bại dựa trên lý thuyết lượng tử.
Simon Singh, tác giả cuốn sách, là tiến sĩ vật lý người Anh gốc Ấn Độ. Ông là một nhà khoa học tài năng và đã từng có nhiều đóng góp đáng kể trong việc phổ biến khoa học dưới nhiều hình thức: từ viết sách đến tham gia làm phim tài liệu khoa học. Ngoài cuốn The Code Book, trước đó ông còn là tác giả một cuốn sách khá nổi tiếng Fermat’s Last Theorem (Định lý cuối cùng của Fermat), và chính ông cũng là đạo diễn bộ phim tài liệu cho chuyên mục Horizon của BBC (chuyên mục nói về lĩnh vực khoa học công nghệ) về đề tài định lý Fermat này.
Cuốn sách The Code Book được Simon Singh trình bày rất dễ hiểu, bạn không cần phải lo cho dù bạn không thật sự giỏi về toán học, vì mỗi khi gặp một khái niệm toán học có vẻ lạ lẫm thì Simon sẽ dừng lại vài dòng, thậm chí cả trang sách, để giải thích nó rồi mới đi tiếp. Do đó chỉ cần bạn biết làm bốn phép tính cộng-trừ-nhân-chia cùng với một sự tò mò về thế giới mật mã là đủ để đọc cuốn sách.
Ban đầu, người ta chỉ nghĩ ra những loại mật mã đơn giản, đủ để che giấu nội dung thông tin. Kiểu như xáo trộn vị trí các chữ cái, hay là thay thế chữ cái này bằng một chữ cái khác, v.v… Nhưng chẳng bao lâu sau thì những loại mật mã thế này đều bị các nhà giải mã phá được. Thế là có sự liên tục đổi mới trong cách tạo mã tạo ra một cuộc chiến trường kỳ giữa những nhà tạo mã và những nhà giải mã. Có người giải mã ra được thì bắt đầu nảy sinh tìm loại mật mã mới, và khi một loại mật mã mới ra đời thì các nhà giải mã lại phải lao đầu vào nghĩ cách hóa giải. Thậm chí người ta phải lập ra những đội ngũ chuyên nghiệp chỉ để làm công việc giải mã thông tin của đối phương.
Trong lịch sử mật mã học, có những bước ngoặt đáng kể đã góp phần không nhỏ trong việc quyết định lịch sử thế giới nói chung.
1. Máy Enigma
Bước ngoặt đầu tiên chính là việc cơ giới hóa việc tạo mã, bằng sự ra đời của hệ thống mật mã Enigma. Đây chính là vũ khí lợi hại nhất cũng như là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại của Đức quốc xã trong thời kỳ thế chiến thứ hai. Chính cái máy Enigma này là nguồn động lực làm nảy sinh ra những ý tưởng đột phát về công nghệ trong thế kỷ 20. Ý tưởng vĩ đại nhất có lẽ thuộc về Alan Turing, người có công lớn nhất trong việc hóa giải máy Enigma, khi trong quá trình giải mã Enigma ông đã hình thành một ý niệm về một cỗ máy được gọi là Turing Machine - tiền đề cho sự phát minh máy tính sau này.
Ngoài ra, cũng vào thời kỳ thế chiến thứ hai thì lịch sử khoa học mật mã đã chứng kiến một loại mật mã bất khả xâm phạm đúng nghĩa của nó. Đó là loại mật mã dùng ngôn ngữ của người địa phương Navajo đang sinh sống tại vùng đất Arizona ở Mỹ. Navajo là một bộ lạc rất nhỏ, và thổ âm Navajo là một dạng ngôn ngữ cực kỳ hiếm gặp, cả nước Mỹ ngoại trừ vài ba chục người là có nghiên cứu, ngoài ra nếu không phải là người Navajo thì trên thế giới chẳng một ai có thể hiểu nổi ngôn ngữ này. Người Mỹ đã dùng ngôn ngữ này cùng với những người Navajo biết tiếng Anh làm mật mã liên lạc, và họ đã có được một hệ thống mật mã tuyệt đối an toàn.
Như vậy có thể nói thế chiến thứ hai chính là cuộc chiến cân não giữa hai phe tạo mã và giải mã. Nếu như ngày đó, Alan Turing vì một lý do nào đó không thể hoàn thành sứ mệnh giải mã Engima của mình, thì có lẽ lịch sử thế giới đã rẽ sang một hướng khác.
2. Giải mã các văn tự cổ xưa
Một đỉnh cao trong lịch sử mật mã học cũng như khảo cổ học chính là việc giải mã những văn tự cổ xưa bao gồm những chữ tượng hình của Ai Cập cổ đại cũng như chữ Linear B nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại. Chữ tượng hình Ai Cập cổ đại đã nhờ vào phiến đá Rosetta (Rosetta Stone, là phiến đá trên đó có chữ tượng hình Ai Cập kèm với chữ demotic và chữ Hy Lạp) làm cơ sở để giải mã. Jean-Francois Champollion là người đã hoàn thiện việc giải mã các chữ tượng hình này, và thành quả này của ông còn có một phần không nhỏ đóng góp của một nhà khoa học đa năng Thomas Young.
Nếu như chữ tượng hình Ai Cập cổ đại còn có Rosetta Stone làm cơ sở giải mã thì chữ Linear B hoàn toàn không có gì. Dù vậy nó vẫn được giải mã bởi Michael Ventris, vốn là một kiến trúc sư, với sự góp sức của nhà nghiên cứu Hy Lạp cổ đại John Chadwick. Có thể nói việc giải mã được các văn tự cổ xưa đã cho thấy sức sáng tạo và tưởng tượng của con người dường như không có giới hạn, và đó cũng chính là một bước ngoặt khác trong lịch sử nhân loại trong việc khám phá lịch sử các nền văn minh cổ đại.
3. Phân phối chìa khóa mã
Trong khoa học mật mã, có một vấn đề cực kỳ quan trọng, mà mãi sau thế chiến thứ hai thì người ta mới tìm ra cách giải quyết triệt để nó. Đó chính là vấn đề phân phối chìa khóa mã. Muốn giải mã thì bắt buộc phải có chìa khóa, và làm thế nào để người nhận có được chìa khóa mã một cách an toàn nhất. Có lẽ chỉ có cách gặp mặt trực tiếp nhau, vì nếu trao đổi qua vô tuyến thì sẽ bị rò rỉ thông tin ngay. Hãy tưởng tượng bạn tạo ra mật mã để liên lạc với hàng ngàn người trên thế giới, và phải gặp mặt từng người để trao chìa khóa mã, thế thì sẽ phải tốn rất nhiều nguồn nhân lực và chi phí chỉ để phục vụ cho chuyện phân phối chìa khóa này. Như vậy với việc kinh tế phát triển, nhu cầu đòi hỏi bảo mật thông tin ngày càng cao với mật độ ngày càng lớn, thì việc làm sao phân phối chìa khóa mã một cách an toàn và hiệu quả nhất đã trở thành một bài toán nhức đầu khác cho giới khoa học mật mã.
Đã có một ý tưởng nhen nhóm lên cho việc giải quyết vấn đề này. Hãy tưởng tượng thông tin cần được gửi là bức thư đựng trong một hộp sắt, với ổ khóa chính là mật mã dùng để mã hóa bức thư, và chìa khóa mở ổ khóa chính là chìa khóa mã. Anh A giờ đây muốn đưa thông tin cho anh B thì phải tìm cách làm sao đưa luôn chìa khóa mã cho anh B mà không cần phải gặp mặt. Đặt trường hợp là nếu gửi chìa khóa qua bưu điện thì cơ may chìa khóa bị lọt ra ngoài là rất cao. Thế là A và B quyết định thế này: anh A dùng một cái hộp có 2 lỗ khóa để có thể khóa lại bằng 2 ổ khóa. Anh A bóp ổ khóa của mình lại, ổ khóa A, và giữ chìa khóa A cho riêng mình. Đưa sang anh B, anh B lại dùng ổ khóa của mình, ổ khóa B, để khóa cái hộp thêm lần nữa, và cũng giữ chìa cho riêng mình, rồi gửi về lại anh A. Anh A thấy lúc này cái hộp đã được khóa tới 2 ổ khóa, nên đã lấy chìa của mình mở ổ khóa A, xong rồi gửi sang anh B. Lúc này cái hộp còn lại duy nhất một ổ khóa mà chỉ anh B mới mở được, nên cho dù cái hộp bị đánh cắp thì người ta cũng chẳng tài nào mở nổi. Và anh B chỉ việc lấy chìa của mình mở ổ khóa B rồi đọc thư.
Tuy nhiên, ý tưởng là thế, nhưng trong khoa học mật mã nếu áp dụng đúng như vậy thì sẽ nảy sinh một vấn đề khác thuộc về logic: đó là trình tự giải mã. Cái hộp có 2 ổ khóa, mở ổ nào trước đi nữa thì cái hộp cũng được mở ra. Nhưng một văn bản được mã hóa cần phải được giải mã theo trình tự “vào trước-ra sau”. Tức là nếu văn bản được mã hóa 2 lần thì người nào mã hóa sau cùng sẽ phải giải mã nó đầu tiên nếu muốn bức thư hoàn toàn được giải. Trở lại câu chuyện lúc nãy, vì anh B mã hóa bức thư cuối cùng nên anh B phải giải mã bức thư ra đầu tiên, rồi đưa anh A giải mã lần nữa thì bức thư mới có thể đọc được, nhưng anh B mới là người cần đọc bức thư, nên nếu làm vậy thì khi bức thư được giải mã hoàn toàn thì nó lại ở chỗí anh A, như vậy thì cũng vô dụng.
Dù ý tưởng có điểm không logic như vậy, đó chính là động lực cho các nhà khoa học mật mã đi tìm lời giải. Ở khúc này có một chi tiết cực hay liên quan đến việc tạo mã, chính chi tiết này đã giúp cho người ta vượt qua được sức ì tâm lý bao lâu nay để giải quyết được vấn đề phân phối chìa khóa mã. Từ đó hình thành loại mật mã mới khác, đuợc cho là không thể phá vỡ, vào cuối thế kỷ 20: mật mã RSA.
4. Mật mã lượng tử
Tuy vào thời điểm cuối thế kỷ 20, RSA là mật mã cực mạnh rồi, nhưng người ta lại phải đối diện với nguy cơ nó sẽ bị phá vỡ. Lúc này, lý thuyết lượng tử bắt đầu đóng vai trò của nó. Sở dĩ mật mã RSA không bị phá nổi là vì hạn chế ở các máy tính, cho dù máy tính có phát triển kiểu tốc độ xung tăng gấp đôi sau 18 tháng thì cũng phải mất cả ngàn năm mới đủ mạnh để phá vỡ RSA. Thế nhưng với một máy tính lượng tử thì chỉ mất dăm ba phút. Để đối phó trước với sự xuất hiện máy tính lượng tử sau này, người ta bắt đầu nghĩ đến một dạng mật mã tuyệt đối, tức là mãi mãi không thể phá vỡ. Và khái niệm về mật mã lượng tử đã ra đời.
Có thể thấy ngành khoa học mật mã đã quy tụ rất nhiều lĩnh vực: từ toán học, đến ngôn ngữ học, và rồi lý thuyết lượng tử của ngành vật lý học cũng góp mặt vào. Không chỉ trình bày về những loại mật mã khác nhau qua từng thời kỳ, mà Simon Singh còn thông qua mật mã học để kể các câu chuyện lịch sử, những câu chuyện bên lề của những nhà khoa học thiên tài như Alan Turing, Thomas Young, Jean-Francois Champollion, Michael Ventris,v.v… Do vậy đây hoàn toàn không phải là một cuốn sách khô khan toàn số với chữ cùng những công thức toán học này nọ. Trái lại những câu chuyện mang tính lịch sử trong cuốn sách sẽ khiến người đọc cảm giác như đang đọc một cuốn tiểu thuyết trong đó nội dung chính là cuộc chiến cân não giữa hai phe lập mã và giải mã.
=> sách hay, đáng để đọc và tìm hiểu về quá trình tiến hoá của mật mã và cách phá giải từng loại mật mã nhờ vào sự cần mẫn (kiểm tra tần suất), trí thông minh (thuật toán), một chút may mắn (gián điệp), tàn nhẫn (thả bom để đánh cắp bản mã).
Trong xuyên suốt quá trình phát triển của mật mã, vấn đề tạo khoá mã và phân phối khoá mã luôn là những vấn đề nhức đầu của cả phe tạo mã lần giải mã. Và đây cũng là cả 1 cuộc chiến tiếp diễn.
Đọc sách này hiểu thêm được 1 số từ khoá, hiểu được mật mã đóng vai trò quan trọng như thế nào trong chiến tranh, hiểu thêm ngôn ngữ cũng là một loại mật mã (văn tự cổ cũng có thể xem là ngôn ngữ của người xưa), mỗi tiền cũng là một loại mật mã.
Phần cuối của sách là về thuyết lượng tử, cách tạo tiền photon thú vị nhưng khó hiểu quá.
Kinh tế Việt Nam: Thăng trầm và Đột phá

Tác giả: Phạm Minh Chính, Vương Quân Hoàng
Nhà xuất bản: Chính trị Quốc gia
Hợp tác phát hành: VNN Publishing
Dòng sách: VNN Other
Khổ sách: 15x22
Kiểu sách: Bìa cứng
Số trang: 556
Giá bìa: 80.000
Thời gian xuất bản: Quý II/209
NXB Chính trị Quốc gia giới thiệu cùng bạn đọc tác phẩm về kinh tế Việt Nam của hai tác giả Phạm Minh Chính và Vương Quân Hoàng.
Bản thảo Kinh tế Việt Nam: Thăng trầm và Đột phá khép lại vào lúc mà lãi suất cơ bản và lãi suất huy động - cho vay thương mại ở Việt Nam đang giảm nhanh sau một năm 2008 căng thẳng. Thông tin tài chính của tốp doanh nghiệp niêm yết dẫn đầu trên thị trường chứng khoán Việt Nam ở cả hai đầu Tổ quốc đang hé lộ cho bức tranh kinh tế le lói ánh sáng đường ra trong cơn sóng gió tài chính nổi lên từ tháng 10 năm 2007. Tới cuối năm 2008, tỷ lệ lạm phát của cả năm giảm xuống còn 19,9% thay vì 25% - 30% như đã từng được dự báo. Những lo lắng về mức giá cả tăng cao được thay bằng quan ngại về khả năng suy giảm và đình trệ tăng trưởng kinh tế.
Với mức tăng trưởng 6,18% cho năm 2008, nền kinh tế Việt Nam vẫn được xem có mức tăng trưởng ấn tượng trong một bối cảnh toàn cầu ảm đạm. Nhưng ngay ở thời điểm này, chưa ai dám nghĩ tới sự chấm dứt các rắc rối của chuỗi vấn đề kinh tế vi mô và vĩ mô đan xen nhau... Cuộc khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ vào ngày 12 tháng 12 năm 2008 đã chấm dứt sứ mệnh của 25 ngân hàng thương mại Hoa Kỳ, chỉ trong một năm, tính từ tháng 10 năm 2007. Bão tố đã lan đi khắp nơi, sang cả Tây Âu, Đông Âu, Nam Mỹ và châu Á. Có lẽ, không một ngóc ngách nào của nền kinh tế toàn cầu, đang được đặt trong các nỗ lực nhất thể hóa cao độ của WTO, WB, IMF cũng như nhiều tổ chức đa phương quốc tế khác, lại có thể miễn nhiễm khỏi căn bệnh tụt huyết áp tài chính ghê gớm này.
Bên cạnh những khó khăn khiến cho đời sống của hàng tỷ con người khắp trái đất bị ảnh hưởng nghiêm trọng, những lý thuyết kinh tế học và phương pháp ứng xử quy mô lớn cho các quốc gia, không phân biệt giàu - nghèo, lớn - bé, cũng đang bị thách thức nghiêm trọng. Niềm tin vào các hệ thống lý thuyết được xây dựng từ nhiều thập kỷ, và đặc biệt phát triển lên tầm cỡ đỉnh cao sau cuộc Đại suy thoái 1929-1933, đang bị xói mòn. Hệ thống kinh tế học ấy như một cơ thể cường tráng, bị những căn bệnh quái ác làm cho suy sụp. Những căn bệnh sinh ra bởi các đoàn quân virus đang làm xói mòn sức chống đỡ của niềm tin.
Không thể không tự hỏi, vậy sự phát triển trong hơn 20 năm Đổi Mới của Việt Nam nằm ở đâu trong lịch sử của dân tộc, của nền kinh tế toàn cầu đương đại và của số phận nhân loại. Có lẽ, không một ai, với sự tâm huyết dành cho dân tộc Việt Nam, sự trăn trở và những nỗ lực của người Việt Nam, lại không thấy được nỗi truân chuyên của một hành trình đầy thăng trầm, những bước đột phá và cả những bài học sâu sắc, không chỉ dành cho nhận thức lịch sử, mà còn có cả ý nghĩa hướng tới giải pháp tương lai.
Kinh tế Việt Nam: Thăng trầm và Đột phá được viết ra với tinh thần như thế: vì Việt Nam, do Việt Nam và của Việt Nam.
Để phản ánh thực tế của một tiến trình dài lâu, cuốn sách được viết thành ba phần cơ bản. Phần I là các quá trình với những thay đổi có mặt tích cực, có mặt hạn chế, trải dài theo thời gian mà ký ức về chúng vẫn còn in sâu trong nhiều thế hệ công dân. Phần II, đã có những đột phá được chủ kiến đúng và cả sự thúc ép của các điều kiện kinh tế. Những đột phá ấy được xem xét trong cuốn sách như những phạm trù trọn vẹn, là những điểm nhấn làm sáng rõ các hành trình thời gian mà số đông sự kiện có thể che khuất bản chất “đột phá” của những sự kiện có tính chất bước ngoặt, như thay đổi cấu trúc, chuyển hướng tư duy, bứt phá về mô hình. Phần III, các vấn đề kinh tế vi mô và vĩ mô thường không chỉ xuất hiện một lần, mà lặp đi lặp lại, ở các dạng thức khác nhau, lúc ẩn lúc hiện. Có những vấn đề và bài học mà ích lợi của việc nhận thức, sự đột phá về cơ cấu và tư duy kinh tế không bị bó hẹp trong một khoảng không gian và thời gian cụ thể. Đó còn là những quy luật phổ quát, có xu hướng lặp lại và biến thể mỗi lúc một phức tạp và bất ngờ hơn.
Ba phần này tiếp cận nền kinh tế như một chỉnh thể sống trong không gian và thời gian hợp lý, có tính lôgic và những nhận thức có lợi cho tư duy kinh tế lâu dài.
Cần phải nói ngay rằng trọng tâm được trình bày trong cuốn sách là hệ thống các thị trường và phương tiện kiểm soát tài chính tiền tệ. Lý do thật đơn giản là vì: Công cụ tài chính tiền tệ ngày nay đã trở thành vũ khí chủ lực để các thể chế và chính phủ sử dụng chống lại những kẻ thù kinh tế, ẩn mình dưới những biến động bất thường, có tính tàn phá và làm xói mòn sự bền vững của nền tảng kinh tế. Một phần quan trọng khác là nền kinh tế thị trường có sự kiểm soát của Nhà nước ngày càng rõ rệt ở Việt Nam, trong đó các thị trường tài chính có ảnh hưởng ngày một mạnh mẽ.
Chủ thể của 538 trang sách là nền kinh tế của Việt Nam, với trọng tâm nghiên cứu đặt vào hệ thống tài chính - tín dụng - tiền tệ. Bức tranh toàn cảnh nền kinh tế Việt Nam được trình bày với mong muốn để lại trong độc giả những suy nghĩ về hành trình tiếp tục chinh phục nền kinh tế toàn cầu cùng giấc mơ nước Việt Nam thịnh vượng.
Các nhà quản lý, nghiên cứu chính sách, đầu tư, giới phân tích, người quan tâm kinh doanh, có nhu cầu tìm hiểu kiến thức kinh tế - xã hội tìm thấy ở cuốn sách nguồn tra cứu thuận tiện với các thuật ngữ, vấn đề, hiện tượng nổi trội của kinh tế Việt Nam được liệt kê cùng số trang tương ứng trong phần Tra cứu ở cuối sách.
Một vài ý phân tích có thể được lặp lại ở các phần khác nhau của cuốn sách do các vấn đề và hiện tượng đặc trưng có tính phổ quát trong nền kinh tế. Bong bóng tài sản tồn tại cả với thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán. Hiện tượng nhập siêu từng xuất hiện trong thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, lặp lại ở giai đoạn 1986-1988, được bàn tiếp trong những năm 1994-1998, và lại có trong chương trình nghị sự của các kỳ họp Quốc hội năm 2008. Hiện tượng “bầy đàn” thể hiện rất rõ ràng qua hình ảnh chen nhau mua vàng vào lúc giá lên, vay mượn mua chứng khoán lúc VN-Index ở đỉnh, thế rồi, lại đổ xô đi đặt lệnh bán khi chỉ số giá sụt giảm.
Một lẽ tự nhiên, một hành trình dài với nhiều thay đổi quan trọng đã để lại nhiều câu hỏi trong quá khứ và có thể sớm gặp lại trong tương lai. Những vòng xoáy của thăng trầm và những đột phá lớn cũng đặt ra các vấn đề rất bản chất, hữu cơ với hệ thống kinh tế chính trị của đất nước. Những vấn đề ấy không nhất thiết phải có một câu trả lời duy nhất đúng, một đáp án được sắp sẵn để sử dụng.
Các vấn đề kinh tế học ngày càng cho thấy rõ bản chất kinh tế - chính trị đan xen phức tạp, với các hệ thống lợi ích tổng thể hay cục bộ, thống trị hay phục tùng. Nền kinh tế Việt Nam đang mỗi lúc một tiến sát tới biên giới của các hệ thống trò chơi kinh tế - chính trị tác động qua lại hết sức rắc rối của các lực lượng đến từ toàn cầu.
Có thể coi đây là một cuộc chiến không khoan nhượng về lợi ích, mà về lâu dài, các mỹ từ như “cùng có lợi”' hay “chia sẻ lợi ích” hoặc “thương mại công bằng'”... là những khoảng dừng dễ thở của một cuộc leo dốc cạnh tranh quyền lợi khốc liệt, giành giật và kiểm soát tài nguyên, khống chế các vũ khí kinh tế có thể điều khiển các bộ phận kinh tế nòng cốt... như đã từng thấy với dầu mỏ, vàng, mặt nước, phân phối điều tiết dòng tài chính, v.v...
Vậy những suy nghĩ về đường hướng phát triển kinh tế của chính người Việt Nam đâu? Ai quan tâm? Ai đã làm gì? Ai được hưởng? Như đã từng vượt qua những ghềnh thác đầy thách thức của lịch sử, những biến cố kinh tế mới đây và sẽ còn tiếp tục trong tương lai được coi là cơ hội để nền kinh tế thị trường non trẻ của Việt Nam điều chỉnh thích ứng hợp lý, tích lũy kinh nghiệm và năng lượng cho một thời kỳ phát triển mới của lịch sử kinh tế đương đại Việt Nam.
Cuốn sách được biên soạn trong một thời gian dài, với rất nhiều công sức và tinh thần trách nhiệm cao nhất. Tuy nhiên, sai sót là không thể tránh khỏi. Các tác giả cảm ơn Nhà xuất bản Chính trị quốc gia đã phối hợp biên tập và xuất bản cuốn sách, giới thiệu cuốn sách tới độc giả cả nước.
Và cuối cùng, cũng là quan trọng nhất, các tác giả gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới bạn đọc và rất mong được độc giả đóng góp ý kiến để tiếp tục hoàn thiện cuốn sách.
Phạm Minh Chính và Vương Quân Hoàng
=> sách hay, đáng mua đáng đọc.
Tớ thích cuốn này ở cách tiếp cận, tác giả sử dụng các phương pháp định lượng để chứng minh cho phần trình bày, giúp tớ hiểu thêm về cách thức sử dụng một số phương pháp định lượng.
Sách trình bày bức tranh toàn cảnh của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ những hạt mầm đầu tiên, mô tả lại tình hình của những ngày thực hiện việc đổi tiền, sự chuyển mình của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ 1 cấp sang hai cấp cho đến việc thành lập, sáp nhập các NHTM Việt Nam. Đây là bức tranh rõ ràng có hệ thống.
Sách còn cung cấp những nét cơ bản và lịch sử hình thành cua 4 loại hình đầu tư chính, gần gũi với người Việt nam: tiền đồng, vàng, đôla Mỹ và bất động sản. Ngoài ra còn có thị trường cổ phiếu, trái phiếu.
Có thể những thông tin trong sách không là thông tin mới với nhiều người đọc nhưng chưa có cuốn sách nào viết về thị trường ViệtNam có hệ thống như cuốn này. Có những cảm nhận khác nữa nhưng để mọi người tự đọc và có thêm cảm nhận, viết hết thì còn gì để đọc.
Kinh tế Việt Nam 2008 - Suy giảm và thách thức đổi mới
Tác giả : CEPR (Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách)
Số trang : 360 trang
Giá bìa : 62000 VNĐ
Khổ sách : 16 x 24 cm
Loại bìa : Mềm
Phát hành : Công ty CP Đại lý xuất bản VNN
Năm xuất bản : 2009
Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam của CEPR là các báo cáo được xuất bản hằng năm nhằm tổng kết những thành tựu và khó khăn, cơ hội và thách thức của nền kinh tế Việt Nam, đồng thời thảo luận có chọn lọc một số vấn đề kinh tế lớn ở mức chuyên sâu. Các vấn đề kinh tế đó được ngụ ý là những vấn đề quan trọng của năm đó và/hoặc có vai trò quan trọng trong những năm tới. Các vấn đề này được nhóm tác giả lựa chọn trên cơ sở tham khảo ý kiến của giới chuyên gia kinh tế trên một cơ sở rộng rãi và khoa học.
Hiện nay, ở Việt Nam đã có một số báo cáo kinh tế thường niên được các cơ quan có chuyên môn và thẩm quyền xuất bản. Đây là những báo cáo có giá trị tham khảo cao, với số liệu được cập nhật chi tiết và hệ thống. Tuy nhiên, các báo cáo này đều có khuynh hướng bao quát những vấn đề lớn của nền kinh tế trong một cấu trúc tương đối ổn định, mà không đi chuyên sâu vào từng chủ đề theo từng năm hay từng thời kỳ. Thêm vào đó, đa phần các báo cáo này đều do các cơ quan chức năng của chính phủ xây dựng, mà không phải do một tổ chức học thuật trong trường đại học xuất bản.
Do đó, Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam của CEPR được xây dựng với những đặc thù mới và khác biệt như sau:
1. Có cấu trúc khác với cấu trúc của các báo cáo truyền thống. Nội dung được tổ chức theo cơ cấu gồm một hoặc hai chương đầu tiên đánh giá tổng quan nền kinh tế thế giới và Việt Nam trong năm nghiên cứu. Tiếp đó, là các chương đi sâu vào từng chủ đề quan trọng của năm hoặc trong năm tới. Nội dung của mỗi chương mang tính độc lập tương đối, có đầy đủ các thành phần của một bài nghiên cứu hướng tới giải quyết vấn đề được nêu. Vì vậy, mỗi chương không chỉ đơn thuần mang tính thống kê hoặc phân tích hiện tại, mà còn cung cấp cơ sở lý luận, hệ thống hoá lý luận và kinh nghiệm lịch sử của vấn đề. Trên cơ sở đó, đưa ra những thảo luận và gợi ý chính sách trong điều kiện hiện tại của Việt Nam. Do các chủ đề được chọn sẽ thay đổi theo từng năm, tập hợp của Báo cáo qua các năm được kỳ vọng sẽ có ý nghĩa tham khảo mang tính hệ thống, và có ý nghĩa nhiều hơn một năm.
2. Cơ quan chuyên môn tổ chức thực hiện báo cáo, Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (CEPR), là một tổ chức nghiên cứu thuộc trường đại học, do đó, có ý thức duy trì những nhận định và thảo luận mang tính khách quan và độc lập nhất có thể (trong mối tương quan với các cơ quan chức năng của chính phủ hoặc cơ quan lập chính sách.) CEPR cũng không chịu sự chi phối của một hay một nhóm doanh nghiệp, hoặc các tổ chức quốc tế.
3. Nhóm tác giả được CEPR mời tham gia đều là các nhà kinh tế hoặc chuyên gia kinh tế có tư duy và tiếng nói độc lập. Thành phần nhóm tác giả có thể thay đổi theo từng năm, phụ thuộc vào các chủ đề chuyên sâu trong mỗi năm. Tuy nhiên, về tổng thể, toàn bộ các tác giả đều thuộc thế hệ các nhà kinh tế trẻ của Việt Nam, được đào tạo chuyên sâu tại các nước phát triển, sử dụng công cụ nghiên cứu hiện đại, giàu kinh nghiệm với thực tiễn kinh tế Việt Nam, và tâm huyết với quá trình phát triển của đất nước. Trong quá trình xây dựng Báo cáo, nhóm tác giả cũng thực hiện các buổi toạ đàm chuyên sâu để lấy ý kiến đóng góp và phản biện từ các nhà kinh tế hàng đầu trong và ngoài nước.
4. Ngoài mục đích cung cấp thông tin, tri thức cho người đọc là doanh nghiệp, tổ chức và giới nghiên cứu, Báo cáo còn được kỳ vọng như một kênh thảo luận và đối thoại chính sách hữu hiệu với Chính phủ và các cơ quan chức năng trong lĩnh vực quản lý kinh tế.
Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (CEPR) mong muốn các tổ chức, cá nhân hay doanh nghiệp cùng tham gia đồng tổ chức việc thực hiện Báo cáo hằng năm, trên cơ sở đóng góp nguồn trí tuệ, tài chính và các nguồn lực cần thiết khác. Trong sản phẩm đầu tiên của loạt báo cáo này, Báo Sài Gòn Tiếp thị đã cùng CEPR hợp tác đồng tổ chức thực hiện dự án báo cáo cho năm 2009. Ấn phẩm mà độc giả đang cầm trên tay là kết quả của chương trình hợp tác đó.
Chúng tôi hy vọng rằng dự án Báo cáo Thường niên Kinh tế của CEPR sẽ lôi cuốn được nhiều tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp trong những năm tiếp theo, để Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (CEPR) có thể cho ra đời những báo cáo khoa học và kịp thời về nền kinh tế Việt Nam.
Hà Nội, ngày 27/04/2009
TS. Nguyễn Đức Thành
Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (CEPR)
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
*****
Một số thông tin về các đơn vị tổ chức thực hiện Báo cáo
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH (CEPR) được thành lập ngày 07/07/2008, là trung tâm nghiên cứu trực thuộc Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. CEPR có tư cách pháp nhân, đặt trụ sở chính tại hiệu bộ Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội tại Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội.
Mục tiêu của CEPR là thực hiện các nghiên cứu kinh tế và chính sách nhằm giúp nâng cao chất lượng ra quyết định của các cơ quan hoạch định chính sách, doanh nghiệp và các nhóm lợi ích, dựa trên sự thấu hiểu bản chất của những vận động kinh tế và quá trình điều hành chính sách vĩ mô ở Việt Nam. Hoạt động chính của CEPR bao gồm phân tích định lượng các vấn đề của nền kinh tế và tác động của chúng tới các nhóm lợi ích; tổ chức các hội thảo đối thoại chính sách với mục đích tạo điều kiện cho các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo doanh nghiệp và tổ chức xã hội cùng gặp gỡ, trao đổi nhằm đề xuất giải pháp cho các vấn đề chính sách nổi cộm; đồng thời tổ chức các khóa đào tạo nâng cao về kinh tế, tài chính và phân tích chính sách.
Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (CEPR)
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
Địa chỉ: Phòng 704, Nhà E4, 144 Đường Xuân Thủy, Quận Cầu Giấy, Hà Nội
Tel: (84) 4 3754 7506/ext 704 -714 / Fax: (84) 4 3704 9921
Email: Info@cepr.org.vn / Website: www.cepr.org.vn
BÁO SÀI GÒN TIẾP THỊ được thành lập ngày 15/04/1999, là cơ quan ngôn luận của Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh, có trụ sở chính tại 25 Ngô Thời Nhiệm, Phường 6, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh.
Báo Sài Gòn Tiếp thị
25 Ngô Thời Nhiệm, Phường 6, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh
Tel: (84) 8 3930 5473 - 39305474 / Fax: (08) 39305470
Email: sgtt@sgtt.com.vn / Website: www.sgtt.com.vn
*****
Các tác giả
TS. Phạm Thế Anh: tốt nghiệp TS kinh tế ở Anh, chuyên gia về kinh tế vĩ mô và dự báo, từng tham gia Nhóm Tư vấn Chính sách của Bộ Tài chính, giảng viên Đại học Kinh tế Quốc dân, kiêm Nghiên cứu viên cao cấp của CEPR.
TS. Từ Thuý Anh: tốt nghiệp TS kinh tế ở Mỹ, chuyên gia kinh tế quốc tế, giảng viên Đại học Ngoại thương Hà Nội, cộng tác viên của CEPR.
TS. Phạm Văn Hà: tốt nghiệp TS kinh tế tại Australia, chuyên gia kinh tế vĩ mô và mô hình hóa (CGE), hiện đang làm việc trong một dự án của UNDP, cộng tác viên của CEPR.
TS. Lê Hồng Giang: tốt nghiệp TS kinh tế ở Australia, chuyên gia kinh tế vĩ mô, tài chính quốc tế và mô hình hóa, nguyên giảng viên Chương trình Kinh tế Fulbright tại TP. Hồ Chí Minh, Giám đốc Quỹ Ngoại hối của công ty đầu tư Tactical Global Management, Australia.
Th.S Jago Penrose: tốt nghiệp ở Anh, nguyên là chuyên gia kinh tế của UNDP Việt Nam, chuyên gia về tổ chức doanh nghiệp và các ngành công nghiệp, nghiên cứu viên cao cấp của CEPR.
TS. Nguyễn Đức Thành: tốt nghiệp TS kinh tế ở Nhật, chuyên gia về kinh tế vĩ mô, từng tham gia Nhóm Tư vấn Chính sách của Bộ Tài chính, là giảng viên Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, Giám đốc kiêm Kinh tế trưởng của CEPR.
TS. Tô Trung Thành: tốt nghiệp TS kinh tế ở Anh, giảng viên Khoa Kinh tế học, Đại học Kinh tế Quốc dân, chuyên gia kinh tế vi mô và kinh tế lượng, các mô hình dự báo, cộng tác viên của CEPR.
Mục lục sách
Lời giới thiệu
Nhà tổ chức
Các tác giả
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục hình và đồ thị
Danh mục bảng
Danh mục hộp
Danh mục các chữ viết tắt
Tóm tắt
TS. LÊ HỒNG GIANG
Khủng hoảng tài chính và kinh tế thế giới 2008
Dẫn nhập
Khủng hoảng địa ốc
Khủng hoảng thanh khoản và hệ thống ngân hàng
Khủng hoảng giá dầu và các loại nguyên liệu thô
Suy thoái kinh tế
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục Chương 1
TS. PHẠM VĂN HÀ
Tổng quan kinh tế vĩ mô Việt Nam 2008
Dẫn nhập
Diễn biến kinh tế vĩ mô
Thị trường tài chính
Chính sách kinh tế vĩ mô
Một số thách thức kinh tế vĩ mô năm 2009
Tài liệu tham khảo
TS. PHẠM THẾ ANH
Quản lý tổng cầu trong môi trường bất ổn vĩ mô
Dẫn nhập
Diễn biến lạm phát năm 2008
Đánh giá chính sách tiền tệ
Ổn định kinh tế vĩ mô và hiệu quả của các chính sách quản lý tổng cầu
Kết luận
Tài liệu tham khảo
TS. TỪ THÚY ANH
Chính sách thương mại quốc tế trong bối cảnh suy thoái toàn cầu
Dẫn nhập
Tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2008
Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu: thương mại nội ngành hay liên ngành
Cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu
Chính sách thương mại
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục Chương 4
TS. NGUYỄN ĐỨC THÀNH
Biến động của thị trường chứng khoán dưới góc nhìn kinh tế vĩ mô
Dẫn nhập
Thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2008
Những nền tảng được xây dựng trong giai đoạn 2006-2008
Ảnh hưởng của kỳ vọng tới trạng thái thị trường
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục Chương 5
TS. TÔ TRUNG THÀNH
Năng lực cạnh tranh ngành công nghiệp Việt Nam trong bối cảnh khủng khoảng kinh tế thế giới
Dẫn nhập
Chặng đua không cân sức – Việt Nam tụt hậu quá xa và dễ bị tổn thương
Chưa có một chiến lược xây dựng năng lực cạnh tranh hiệu quả, rõ ràng và nhất quán
Kết luận
Tài liệu tham khảo
THS. JAGO PENROSE
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam: Tăng cường thu hút hay tăng cường quản lý?
Dẫn nhập
Những đóng góp của FDI
Những hạn chế của FDI
Kết luận
Tài liệu tham khảo
TS. NGUYỄN ĐỨC THÀNH
Viễn cảnh kinh tế năm 2009 và hàm ý chính sách
Viễn cảnh kinh tế Việt Nam năm 2009
Khuyến nghị chính sách
Tài liệu tham khảo
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
Phụ lục Báo cáo
Phụ lục 1: Phụ lục Thống kê
Phụ lục 2: Những chính sách vĩ mô nhằm bình ổn nền kinh tế trong năm 2008 và đầu 2009
Tài liệu tham khảo
=> Sách hay, đạt được những mục tiêu ban đầu của nhóm tác giả nêu ra. Cấu trúc khác lạ gồm nhiều chương độc lập của từng tác giả nghiên cứu. Nội dung cung cấp thông tin và thảo luận tình hinh kinh tế Việt nam và thế giới năm 2008 với những phân tính và đánh giá cụ thể, dễ hiểu.
Tuy nhiên, sách có sai sót về xử lý số liệu:
- Bảng 8.3, trang 270: có sai sót về đơn vị của bảng tính hoặc sai trong việc sử dụng dấu chấm (.) và dấu phẩy (,) khi phân định phần thập phân, phần nghìn. Điển hình: nếu hàng "Sai số và sai sót" là -100 tỷ USD là đúng và theo cách sử dụng dâu chấm (.) xuyên suốt trong bảng tính để phân định phần nghìn thì thâm hụt cán cân thanh toán trong cột cuối cùng sẽ là 2442 tỷ USD. Nhưng trong phần nhận xét của trang sau thì tác giả thể hiện ý định thâm hụt cán cân thanh toán trong kịch bản (cột cuối cùng) chỉ là 2,45 tỷ USD (gần hai tỷ rưỡi). Như vậy, nếu bảng tính đúng thì đơn vị bảng tính phải là triệu USD (thay vì tỷ USD). Ngoài ra, cũng trong bảng tính này, số liệu cán cân thương mại 2008 ước tính thì lại lẫn lộn giữa dấu chấm và dấu phẩy, sai sót này có thể do đánh máy.
Monday, November 2, 2009
Cẩm nang ngân hàng đầu tư - Mạc Quang Huy

Năm xuất bản:2009
Đơn vị xuất bản:Thống kê
Giá sách:250.000 VND
Số trang:725
Sau 9 năm hình thành và phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, ngày càng thể hiện vai trò là một kênh huy động vốn dài hạn không thể thiếu của nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng. Đặc biệt, từ năm 2006 đến nay, thị truờng chứng khoán đã có tốc độ tăng truởng rất mạnh, thu hút một lượng lớn các nhà đầu tư tham gia và tạo thành một hiện tượng kinh tế của Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới. Thực tế cho thấy, trong hoạt động của thị trường vốn ở các nước phát triển thì ngân hàng đầu tư là một trong những chủ thể quan trọng nhất.
Tại Việt Nam, tuy ngân hàng đầu tư còn là một khái niệm mới mẻ, song đã xuất hiện một số công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ với các hoạt động phôi thai theo hướng các nghiệp vụ của ngân hàng đầu tư. Đồng thời, một số ngân hàng thương mại lớn cũng đang trong quá trình chuyển đổi sang mô hình tập đoàn tài chính, trong đó có chú trọng đẩy mạnh phát triển mảng ngân hàng đầu tư. Đây là sự phát triển tất yếu mà các nước phát triển đã trải qua và là một định hướng đúng của nền kinh tế.
Để giúp đông đảo bạn đọc tìm hiểu về ngân hàng đầu tư, Nhà xuất bản Thống kê cho ra mắt bạn đọc cuốn “Cẩm nang ngân hàng đầu tư” của tác giả Mạc Quang Huy, một chuyên gia giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, đã nhiều năm công tác tại các ngân hàng đầu tư quốc tế lớn trên thế giới.
Với 22 chương, nội dung cuốn “Cẩm nang ngân hàng đầu tư” không chỉ trình bày bản chất của ngân hàng đầu tư; cách thức tổ chức hoạt động; các nhóm sản phẩm và nghiệp vụ chính của ngân hàng đầu tư; cách thức quản lý hoạt động và rủi ro, mà còn đề cập đến một số khía cạnh quan trọng của cuộc khủng hoảng tài chính đương đại và ảnh hưởng của nó tới hiện tại cũng như tương lai phát triển của ngành ngân hàng đầu tư. Cuốn “Cẩm nang ngân hàng đầu tư” dành một chương nghiên cứu về thực trạng thị trường vốn và tiềm năng phát triển ngành ngân hàng đầu tư tại Việt Nam. Cuốn cẩm nang này không trình bày quá sâu về từng loại nghiệp vụ cụ thể của ngân hàng đầu tư.
Do nghiệp vụ ngân hàng đầu tư còn khá mới mẻ ở Việt Nam, nên khi biên soạn cuốn cẩm nang này, bằng kiến thức và kinh nghiệm vốn có của người trong cuộc, trên cơ sở tham khảo các nguồn tài liệu tin cậy, kết hợp với diễn biến thực tế của thị trường vốn Việt Nam, tác giả đã cố gắng trình bày cuốn cẩm nang theo một cách viết khoa học, đơn giản và dễ hiểu. Các thuật ngữ chuyên ngành cũng đã được Tác giả Việt hóa theo hướng giải thích bản chất hơn là sáng tác ra những thuật ngữ khó hiểu. Khi cần thiết sử dụng các khái niệm hay thuật ngữ mới, Tác giả cũng tham chiếu thuật ngữ tiếng Anh để bạn đọc tham khảo và tránh hiểu nhầm trong trường hợp nghĩa tiếng Việt chưa được rõ. Trong quá trình nghiên cứu, có thể bạn đọc sẽ gặp một số thuật ngữ mới chưa được giải thích ngay. Xin hãy kiên nhẫn vì các khái niệm đó sẽ được giải thích trong các phần sau của cuốn cẩm nang.
Cuốn “Cẩm nang ngân hàng đầu tư” là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đồng nghiệp, các nhà quản lý, các cán bộ, giảng viên và sinh viên chuyên ngành tài chính, ngân hàng (đặc biệt là khối đại học và nghiên cứu sau đại học), các giám đốc tài chính của các doanh nghiệp, các nhà báo chuyên mục kinh tế,…
“Cẩm nang ngân hàng đầu tư” xuất bản lần đầu ở Việt Nam khó tránh khỏi thiếu sót. Mong bạn đọc góp ý kiến, phê bình.
MỤC LỤC
PHẦN 1 - NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ
Chương 1: Tổng quan ngân hàng đầu tư
1.1- Khái niệm ngân hàng đầu tư
1.2- Các nghiệp vụ chính
1.3- Các dòng sản phẩm đầu tư
1.4- Các tên tuổi lớn trong ngành ngân hàng đầu tư
1.5- Quy mô hoạt động toàn cầu
1.6- Xu hướng phát triển của ngành
1.7- Tác động của khủng hoảng tài chính tới ngành ngân hàng đầu tư
1.8- Tiềm năng ngân hàng đầu tư tại Việt Nam
1.9- Hãy cùng nhau cập nhật!
Chương 2: Ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại
2.1- Ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại
2.2- Sự ra đời của ngân hàng tổng hợp
2.3- Các mô hình ngân hàng đầu tư
Chương 3: Tổ chức hoạt động ngân hàng đầu tư
3.1- Mô hình tổ chức của ngân hàng đầu tư
3.2- Cơ cấu tổ chức bộ phận kinh doanh
3.3- Cơ cấu tổ chức bộ phận quản trị rủi ro
3.4- Cơ cấu tổ chức bộ phận điều hành
3.5- Sự tương tác và tính độc lập giữa các khối kinh doanh
3.6- Tham khảo mô hình tổ chức của Morgan Stanley
3.7- Mô hình quản trị và điều hành của ngân hàng đầu tư
3.8- Môi trường hoạt động của ngân hàng đầu tư
Chương 4: Sản phẩm có thu nhập cố định
4.1- Giới thiệu chung
4.2- Chứng khoán nợ do chính phủ phát hành
4.3- Trái phiếu do các cơ quan chính phủ phát hành
4.4- Chứng khoán nợ chính quyền địa phương
4.5- Chứng khoán nợ doanh nghiệp
Chương 5: Đầu tư sản phẩm có thu nhập cố định
5.1- Rủi ro đầu tư chứng khoán nợ
5.2- Định mức tín nhiệm chứng khoán nợ
5.3- Một số khái niệm cơ bản trong phân tích chứng khoán nợ
5.4- Nghiệp vụ repo trái phiếu
5.5- Một số chiến thuật đầu tư chứng khoán nợ
Chương 6: Sản phẩm và đầu tư chứng khoán vốn
6.1- Khái niệm nghiệp vụ chứng khoán vốn
6.2- Cổ phiếu
6.3- Trái phiếu chuyển đổi
6.4- Quyền chọn mua, bán cổ phiếu
6.5- Chứng quyền cổ phiếu
6.6- Nghiệp vụ tài trợ cổ phiếu
6.7- Chiến thuật đầu tư cổ phiếu
6.8- Phân tích cơ bản trong đầu tư cổ phiếu
6.9- Phân tích kỹ thuật trong đầu tư cổ phiếu
Chương 7: Phát hành chứng khoán vốn và chứng khoán nợ
7.1- Nghiệp vụ ngân hàng đầu tư
7.2- Phát hành chứng khoán vốn
7.3- Bảo lãnh phát hành chứng khoán nợ
Chương 8: Mua bán, sáp nhập doanh nghiệp
8.1- Mua bán, sáp nhập doanh nghiệp
8.2- Quy trình mua bán, sáp nhập doanh nghiệp
8.3- Soát xét đặc biệt
8.4- Phí tư vấn mua bán, sáp nhập
8.5- Các chiến thuật chống thôn tính thù nghịch
8.6- Tài trợ vốn cho các giao dịch mua bán, sáp nhập
8.7- Mua bán, sáp nhập các công ty đại chúng
8.8- Kế toán đối với hoạt động mua bán, sáp nhập
8.9- Định giá doanh nghiệp
Chương 9: Nghiệp vụ nghiên cứu
9.1- Giới thiệu chung
9.2- Các sản phẩm nghiên cứu
9.3- Thực tiễn hoạt động nghiên cứu
9.4- Phân phối sản phẩm nghiên cứu
9.5- Bảo mật thông tin
9.6- Mâu thuẫn lợi ích đối với hoạt động nghiên cứu
Chương 10: Nghiệp vụ quản lý đầu tư
10.1- Giới thiệu chung
10.2- Quỹ đầu tư
10.3- Quỹ tương hỗ
10.4- Quỹ niêm yết
10.5- Quỹ tín thác đầu tư bất động sản
10.6- Cơ chế tài chính của quỹ đầu tư
10.7- Quản lý gia sản
Chương 11: Nghiệp vụ ngân hàng bán buôn
11.1- Giới thiệu chung
11.2- Đầu tư vốn tư nhân
11.3- Đầu tư vốn mạo hiểm
11.4- Mua doanh nghiệp bằng vốn vay (LBO)
11.5- Cho vay đồng tài trợ và tài trợ dự án
11.6- Đầu tư bất động sản
Chương 12: Nghiệp vụ nhà môi giới chính
12.1- Giới thiệu chung
12.2- Quỹ đầu cơ (hedge fund)
12.3- Quy trình hoạt động của quỹ đầu cơ
12.4- Dịch vụ nhà môi giới chính
12.5- Quy trình ký quỹ áp dụng với quỹ đầu cơ
Chương 13: Nghiệp vụ chứng khoán hóa
13.1- Khái niệm
13.2- Quy mô chứng khoán hóa
13.3- Quy trình chứng khoán hóa
13.4- Lợi ích và chi phí
13.5- Các loại sản phẩm chứng khoán hóa
13.6- Trái phiếu có danh mục cho vay thế chấp mua nhà làm tài sản đảm bảo (MBS)
13.7- Trái phiếu có các danh mục rủi ro tín dụng làm tài sản đảm bảo (CDO)
13.8- Chứng khoán hóa tín dụng dưới chuẩn
Chương 14: Sản phẩm phái sinh (I)
14.1- Giới thiệu chung
14.2- Các nhóm hợp đồng phái sinh
14.3- Hợp đồng kỳ hạn ngoại tệ
14.4- Hợp đồng kỳ hạn lãi suất
14.5- Hợp đồng hoán đổi hối đoái
14.6- Hợp đồng hoán đổi tiền tệ
14.7- Hợp đồng hoán đổi lãi suất (IRS)
14.8- Hợp đồng hoán đổi cổ phiếu
Chương 15: Sản phẩm phái sinh (II)
15.1- Hợp đồng tương lai
15.2- Hợp đồng quyền chọn
15.3- Phái sinh hàng hóa
15.4- Phái sinh rủi ro tín dụng
15.5- Hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng
15.6- Hợp đồng hoán đổi toàn bộ lợi ích (TRS)
15.7- Phái sinh thời tiết
Chương 16: Sáng tạo tài chính
16.1- Sáng tạo tài chính
16.2- Trái phiếu cơ cấu
16.3- Trái phiếu liên kết rủi ro lãi suất
16.4- Trái phiếu bảo vệ rủi ro lạm phát
16.5- Trái phiếu liên kết rủi ro ngoại hối
16.6- Trái phiếu liên kết rủi ro cổ phiếu
16.7- Trái phiếu liên kết rủi ro tín dụng
16.8- Trái phiếu lợi suất cao
Chương 17: Quản lý hoạt động và rủi ro trong ngân hàng đầu tư
17.1- Khung quản lý tài chính của ngân hàng đầu tư
17.2- Hệ thống chỉ số đánh giá hoạt động cơ bản
17.3- Quản lý kết quả kinh doanh
17.4- Khung quản lý nguồn vốn
17.5- Quản trị rủi ro
Chương 18: Khung pháp lý và đạo đức nghề nghiệp
18.1- Giới thiệu chung
18.2- Các quy định về phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp
18.3- Các quy định về trao đổi chứng khoán trên thị trường thứ cấp
18.4- Các quy định về công ty đầu tư và nhà tư vấn đầu tư
18.5- Đạo luật Sarbanes-Oxley 2002
18.6- Đạo đức nghề nghiệp
Chương 19: Cơ hội nghề nghiệp tại ngân hàng đầu tư
19.1- Giới thiệu chung
19.2- Tiêu chuẩn tuyển dụng
19.3- Cơ hội nghề nghiệp tại khối ngân hàng đầu tư (IBD)
19.4- Cơ hội nghề nghiệp tại khối đầu tư
19.5- Cơ hội nghề nghiệp tại khối quản lý đầu tư
19.6- Cơ hội nghề nghiệp tại khối nghiên cứu
19.7- Cơ hội nghề nghiệp tại bộ phận điều hành
19.8- Các bằng cấp chuyên môn
19.9- Thu nhập tại ngân hàng đầu tư
Chương 20: Xu hướng phát triển ngành ngân hàng đầu tư
20.1- Tự do hóa tài chính
20.2- Quá trình toàn cầu hóa
20.3- Các sản phẩm mới
20.4- Phát triển công nghệ thông tin
20.5- Các quy định pháp lý mới
20.6- Ngân hàng đầu tư và cuộc khủng hoảng tài chính
20.7- Tương lai ngành ngân hàng đầu tư toàn cầu
PHẦN 2 - THAM KHẢO
Chương 21: Tiềm năng ngân hàng đầu tư tại Việt Nam
21.1- Thị trường vốn Việt Nam
21.2- Dòng sản phẩm có thu nhập cố định
21.3- Dòng sản phẩm chứng khoán vốn
21.4- Dòng sản phẩm phái sinh và sản phẩm cơ cấu
21.5- Dịch vụ tư vấn ngân hàng đầu tư
21.6- Quản lý đầu tư
21.7- Nghiệp vụ nghiên cứu
21.8- Các ngân hàng đầu tư quốc tế tại Việt Nam
Chương 22: Niêm yết tại thị trường quốc tế
22.1- Giới thiệu chung
22.2- Cách thức niêm yết tại SGDCK quốc tế
22.3- Sở giao dịch chứng khoán Luân Đôn (LSE)
22.4- Sở giao dịch chứng khoán New York (NYSE)
22.5- Sở giao dịch chứng khoán Singapore (SGX)
PHẦN 3 - PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Danh sách tài liệu tham khảo
Phụ lục 2: Danh sách các thuật ngữ viết tắt
Phụ lục 3: Danh sách một số thuật ngữ ngân hàng đầu tư (Anh - Việt)
Phụ lục 4: Danh sách một số báo chí cập nhật ngân hàng đầu tư
Phụ lục 5: Danh sách các DNNN lớn của Việt Nam thực hiện cổ phần hóa giai đoạn 2007-2010
Nhận xét của VNEconomy:
Ngân hàng đầu tư là một định chế tài chính quan trọng của thị trường vốn tại các quốc gia phát triển. Nghiệp vụ truyền thống và cơ bản nhất của ngân hàng đầu tư là thực hiện vai trò kết nối các chủ thể thiếu vốn và các chủ thể thừa vốn trên thị trường vốn thông qua việc tư vấn, bảo lãnh phát hành các loại chứng khoán (bao gồm chứng khoán vốn và chứng khoán nợ).
Ngày nay, ngân hàng đầu tư tham gia vào nhiều loại hình nghiệp vụ đa dạng khác nhau trên thị trường vốn, bao gồm dịch vụ tư vấn ngân hàng đầu tư, môi giới, đầu tư, nghiên cứu, quản lý tài sản, ngân hàng bán buôn và các dịch vụ khác. Dịch vụ tư vấn ngân hàng đầu tư bao gồm tư vấn, bảo lãnh phát hành chứng khoán cũng như tư vấn mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A).
Tại Việt Nam, tuy ngân hàng đầu tư còn là một khái niệm mới mẻ, song đã xuất hiện một số công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ với các hoạt động phôi thai theo hướng các nghiệp vụ của ngân hàng đầu tư. Đồng thời, một số ngân hàng thương mại lớn cũng đang trong quá trình chuyển đổi sang mô hình tập đoàn tài chính, trong đó có chú trọng đẩy mạnh phát triển mảng ngân hàng đầu tư. Đây là sự phát triển tất yếu mà các nước phát triển đã trải qua và là một định hướng đúng của nền kinh tế.
Mặc dù vậy, các tài liệu và thông tin xuất bản nhằm giới thiệu, phân tích đầy đủ và khoa học về các nghiệp vụ, các dòng sản phẩm, mô hình quản lý và hoạt động cũng như kinh nghiệm trên thế giới trong lĩnh vực ngân hàng đầu tư hiện còn khá hạn chế tại Việt Nam.
Để đáp ứng nhu cầu thông tin của bạn đọc tìm hiểu về lĩnh vực này, Nhà xuất bản Thống kê vừa ra mắt bạn đọc cuốn “Cẩm nang ngân hàng đầu tư” của tác giả Mạc Quang Huy, một chuyên gia nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng đã nhiều năm công tác tại các ngân hàng đầu tư quốc tế lớn trên thế giới, là cộng tác viên quen thuộc với nhiều bài viết sâu sắc trên VnEconomy.
Cuốn sách 725 trang, được chia thành 22 chương, trình bày tương đối toàn diện mỗi lĩnh vực sản phẩm, nghiệp vụ và quản lý của ngân hàng đầu tư. Tác giả cũng đề cập đến một số khía cạnh quan trọng của cuộc khủng hoảng tài chính đương đại và ảnh hưởng của nó tới hiện tại cũng như tương lai phát triển của ngành ngân hàng đầu tư.
Các câu hỏi như nguyên nhân, gốc rễ và cách thức hình thành của một cuộc khủng hoảng tài chính là gì, vì sao các ngân hàng đầu tư thất bại nặng nề trong cuộc khủng hoảng tài chính, vì sao các ngân hàng đầu tư độc lập còn lại trên Phố Wall là Goldman Sachs va Morgan Stanley phải xin chuyển sàng mô hình ngân hàng đầu tư tổng hợp (universal bank) ngay sau khi Lehman Brothers sụp đổ (9/2008), xu hướng của ngành ngân hàng đầu tư trong tương lai như thế nào… được lần lượt trả lời trong cuốn sách này.
Bên cạnh đó, tác giả cũng dành một chương nghiên cứu về thực trạng thị trường vốn và tiềm năng phát triển ngành ngân hàng đầu tư tại Việt Nam...
Theo đánh giá của giới chuyên môn tại Việt Nam, đây là một tài liệu tham khảo hữu ích đối với các cán bộ quản lý và nhân viên chuyên nghiệp trong ngành tài chính Việt Nam, bao gồm các cơ quan chức năng, sở giao dịch chứng khoán, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm, các nhà đầu tư có tổ chức, các giám đốc tài chính doanh nghiệp muốn tìm hiểu về hoạt động và dịch vụ ngân hàng đầu tư quốc tế.
Cuốn sách cũng được viết như một cuốn sách giáo khoa cho các giảng viên, sinh viên khối kinh tế, tài chính, ngân hàng (khối đại học và sau đại học) bao gồm các trung tâm đào tạo chứng khoán trong nước, muốn tiếp cận các nghiệp vụ tài chính hiện đại. Các phóng viên, biên tập viên, nhà báo chuyên ngành tài chính và chứng khoán cũng sẽ tìm thấy những thông tin bổ ích từ cuốn sách này.
*Minh Đức
=> Đây là lần đầu tớ đánh giá về một cuốn sách có thể được liệt kê vào thể loại sách "chuyên ngành" hay "nghiệp vụ", vì vốn dĩ rất ngại nêu nhận xét các thể loại này, dễ gây nhiều phản ứng do kiến thức của bản thân không sâu rộng và không thể so sánh với các tác giả của thể loại này nên việc đánh giá hay nhận xét là vấn đề tớ không thích. Có điều, do cuốn này được tung hô trước khi phát hành nhiều quá nên sau khi đọc xong quyết định viết về nó.
Cuốn sách này được đầu tư một cách khá kỹ lưỡng. Trước hết là khâu giới thiệu, rất nhiều website tài chính và bài viết đề cập, đề cao, khen ngợi cuốn sách này. Rồi đến việc phát hành thì cũng chỉ chọn 2 nhà sách được phép bán. Rồi ngày phát hành được ấn định nhưng đến đó, tớ không thấy fahasa SG bày bán, phải hơn 2 tháng sau thì sách mới có trên kệ, chẳng hiểu nguyên nhân vì sao...vào lúc đó, các quầy sách hay bán chiết khấu cũng chưa thấy xuất hiện... Mãi đến cách đây 2 tháng (tháng 9/2009) thì mới được bán rộng rãi ở nhiều nhà sách..Phải có lời khen ngợi cho đội sale của sách này. Sách được trình bày bìa và giấy khá đẹp và độ dày bằng cuốn từ điển (nội dung cũng gần như từ điển).
Về mặt nội dung thì cuốn sách đáp ứng được mục đích ban đầu theo ý tác giả (tớ nghĩ vậy!) đó là trình bày bản chất của ngân hàng đầu tư, cách thức tổ chức hoạt động, các nhóm sản phẩm và nghiệp vụ chính của ngân hàng đầu tư, cách thức quản lý haọt động và rủi ro và cuối cùng là đáp ứng được mục đích: không trình bày quá sâu về từng loại nghiệp vụ cụ thể của ngân hàng đầu tư. Chính vì các tiêu chí đề ra như vậy, khi đọc cuốn sách này, những người đã từng đọc, học, nghiên cứu về các nghiệp vụ nêu trong sách bằng tiếng anh thì cuốn sách như một bản dịch tốt để hệ thống lại các khái niệm, kiến thức tổng quát của các nghiệp vụ; còn đối với những người mới tiếp cận phân tích tài chính thì sách này giúp cho người đọc có cái nhìn tổng quát các nghiệp vụ và hiểu hơn về khái niệm. Tôi thấy về mặt nghiệp vụ thì đa phần sách được trình bày khá sát theo hệ thống của chương trình CFA về mặt khái niệm các nghiệp vụ (chưa đọc 2 cuốn "The business of Investment Banking" và "Vault Career Guide to investment banking" nên không rõ nội dung của sách này có theo 2 cuốn vừa nói không nữa!). Và một cái hay của sách này nữa là thường có những liên hệ đến tình hình của nghiệp vụ đó ở Việt Nam khiến cho người đọc trong nước có cảm giác gần gũi chứ không đơn thuần chỉ tập hợp và dịch từ các sách nước ngoài.
Tuy nhiên, tớ chỉ có nhận xét là khi sách đề cập về chương trình CFA thì chỉ ghi là “theo CFA” hoặc là “của CFA” nhưng thiết nghĩ nếu đúng thì phải là “theo Hiệp hội CFA” hoặc “theo/của chương trình CFA” (standard VII B of Professional conduct). Có thể tác giả không là hội viên nên việc đề cập như vậy không là vấn đề.
Dưới đây là một số tài liệu tham khảo trích theo mục lục của tác giá:
1. K. Thomas Lia. The business of Investment Banking, 2005. John Wiley & Son, Inc
2. Vault Career Guide to investment banking, 2005 (download)
3. Harold Bierman JR. Private Equity, 2003. John Wiley & Son, Inc (download)
4. Philippe Jorion. Financial Risk Manager Handbook. John Wiley & Son, Inc (download)
11. Mergers and Acquisitions, 2005. Hiệp hội ngân hàng anh quốc
12. Wealth Management in Switzerland, 2007. Hiệp hội ngân hàng thụy sỹ
16. Vietnam capital market roadmap, 2003. ADB
17. Asia pacific M&A Bulletin (2007, 2008). PWC Việt Nam (download)
Subscribe to:
Posts (Atom)