Sunday, July 9, 2017

Một cơn gió bụi - Trần Trọng Kim (Bản bị thu hồi)


Trong tác phẩm này, Trần Trọng Kim đã có những nhận xét thẳng thắn về giai đoạn 1942-1949, với những đánh giá mang tính cá nhân thì người đọc sẽ có thêm góc nhìn về những tổ chức cách mạng trong giai đoạn đó.
Bản thân tôi thích chương 6 "Chính phủ Việt Nam và tình thế trong nước" và Chương 7 "Tôn chỉ và hành động của Cộng sản Đảng"  miêu tả cụ thể và sâu sắc.
Một số đoạn trích mình thích như sau:
"Vậy mà ở xa nghe nói, tưởng là các ông ấy có tổ chức, có thế lực, kỳ thực chẳng có gì đáng kể. Cũng như là sau tôi thấy những người cách mệnh Việt Nam ta ở bên Tàu, nghe tuyên truyền thì tưởng là họ có cơ sở chắc chắn, lúc biết rõ sự thực, thật là buồn. Tôi kể câu chuyện ra đây cốt để người ta biết rõ sự thực, đừng có nghe nhảm tin lầm. Mình là người một nước hèn yếu, ra ngoài không biết nương tựa vào đâu, thành ra thường hay bị cực khổ mà không làm được việc gì ra trò "

"Người Xiêm cùng một nòi giống với người Tàu, tiếng nói cũng hơi giống nhau. Vì người Xiêm và người Tàu xưa kia ở mé tây tỉnh Vân Nam và mé đông Tây Tạng, đã từng lập thành nước Nam Chiếu vào khoảng đệ thất đệ bát thế kỷ. Sau vì người Tàu xâm lăng mới theo sông Cửu Long xuống miền nam, lập ra các bộ lạc ở xứ Tàu và nước Xiêm ngày nay. Tính người Xiêm cũng gần như người Tàu, đàn ông ưa hoạt động lắm, làm gì được đủ ăn rồi thì thích chơi bời, cờ bạc chớ ít cố gắng làm lụng. Gần hầu hết dân trong nước theo Phật giáo tiểu thặng như Cao Miên và Tàu"

"
Việc binh bị trong nước là việc quan trọng đến vận mạng cả nước, mà lúc ấy quân lính và súng ống không có. kinh đô Huế có tất cả hơn một trăm lính bảo an, tức lính khố xanh cũ, và sáu bảy chục khẩu súng cũ đạn cũ, bắn mười phát thì năm sáu phát không nổ.
Các tỉnh cũng vậy, mỗi tỉnh có độ 50 lính bảo an, các phủ huyện thì độ chừng vài chục người. Việc phòng bị do quân Nhật đảm nhiệm hết. Vì lẽ đó và các lẽ khác nữa mà lúc đầu chúng tôi không đặt bộ quốc phòng. Một là trong khi quân Nhật đang đóng ở trong nước, nếu mình đặt bộ quốc phòng thì chỉ có danh không có thực, và người Nhật có thể lợi dụng bắt người mình đi đánh giặc với họ. Hai là trước khi mình có đủ binh lính và binh khí, ta hãy nên gây cái tinh thần binh bị, thì rồi quân đội mình mới có khí thế.
Nhiều người ở ngoài không hiểu ý chúng tôi buông lời bài xích rằng sao có chính phủ mà không có bộ quốc phòng. Học không biết rõ tình thế lúc bấy giờ bắt chúng tôi phải trù tính mọi việc cho chu đáo, tránh làm những việc hớ hênh có hại cho dân cho nước. Không có bộ quốc phòng, nhưng lại có bộ thanh niên, lập ra các đạo thanh niên tiền tuyến, để một ngày kia thành những đội quân có tinh thần mạnh mẽ. "


"Lá cờ vàng là từ xưa nước ta vẫn dùng. Trong sách Quốc Sử Diễn Ca nói khi bà Triệu Ẩu nổi lên đánh quân Tàu, đã dùng lá cờ ấy khởi nghĩa, nên có câu rằng “Ðầu voi phất ngọn cờ vàng”. Vậy lấy sắc cờ vàng là hợp với cái ý cách mệnh của tổ quốc, lấy dấu hiệu quẻ ly là vì trong lối chữ tối cổ của ta có tám chữ viết bằng vạch liền (dương) và những vạch đứt (âm) để chỉ tám quẻ, chỉ bốn phương chính và bốn phương bàng, nói ở trong kinh dịch, mà quẻ ly chủ phương nam. Chữ LY còn có nghĩa là lửa, là văn minh, là ánh sáng phóng ra bốn phương.
Lấy sắc vàng là hợp với lịch sử, lấy quẻ ly là hợp với vị trí nước nhà lại có nghĩa chỉ một nước văn hiến như ta thường tự xưng. Như thế là lá cờ vàng quẻ ly có đủ các ý nghĩa.
Song có người nói: cờ quẻ ly là một điềm xấu cho nên thất bại, vì ly là lìa. Ly là lìa là một nghĩa khác chứ không phải nghĩa chữ ly là quẻ. Và việc làm của một chính phủ là cốt ở cái nghĩa lý, chứ không phải sự tin nhảm vô ý thức.
Việc thất bại là vì tình thế chứ không phải vì lá cờ. Giả sử dùng lá cờ khác mà trong hoàn cảnh lúc ấy có thể thay đổi được gì không ?"

"Nguyên từ khoảng 1925-1926 trở đi, ở Việt Nam đã có người nói đến chủ nghĩa cộng sản. Lúc ấy có một thiếu niên tên Nguyễn Tất Thành, sinh năm 1894, con nhà thi lễ, quê làng Kim Liên huyện Nam Ðàn thuộc tỉnh Nghệ An. Trước học trường trung học ở Huế rồi bỏ sang Pháp theo Xã Hội Ðảng, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc. Sau lại sang Nga vào đảng Cộng Sản, đến khoảng 1929-1930 ông trở về gây phong trào cộng sản cách mệnh ở vùng Nghệ Tĩnh. Lúc ấy chính phủ bảo hộ Pháp dùng võ lực đàn áp một cách tàn nhẫn. Việc ấy thất bại, đảng cộng sản tuy phải im hơi lặng tiếng, nhưng vẫn ngấm ngầm tuyên truyền trong đám dân gian và thợ thuyền, theo đúng phương pháp đã định ở Mạc Tư Khoa bên Nga.

Ông Nguyễn Ái Quốc sang Quảng Châu và phao tin rằng ông đã chết trong ngục khi bị bắt ở Hương Cảng, và lại đổi tên là Lý Thụy rồi chen lẫn với những người cách mệnh Việt Nam ở bên Tàu. Vào khoảng 1936-1937 ông lập ra đảng cộng sản gọi là Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh, gọi tắt là Việt Minh, và cho người về hoạt động ở miền thượng du bắc việt. Vì vậy thuở ấy người ta mới biết là có đảng Việt Minh.
Ðến cuối năm 1940 nhân khi quân Nhật Bản ở Quảng Tây đánh vào Lạng Sơn, những người như bọn ông Trần Trung Lập trong đảng Việt Nam Quang Phục Hội của ông Phan Bội Châu lập ra khi trước, theo quân Nhật về đánh quân Pháp hồi tháng chín năm 1940. Sau vì người Nhật ký hiệp ước với người Pháp rồi trả lại thành Lạng Sơn cho người Pháp, ông Trần Trung Lập bị quân Pháp bắt được đem xử tử. Toán quân phục quốc vỡ tan, có một số độ 700 người, trong số ấy có độ 40 nữ đảng viên theo ông Hoàng Lương chạy sang Tàu.
Vậy các đảng của người Việt Nam ở bên Tàu vào khoảng năm 1942 trở đi, có Việt Nam Phục Quốc Ðồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Ðảng và những người cách mệnh không có đảng phái v…v…
Thuở ấy, chính phủ Trung Hoa thấy những đảng viên Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh Hội hành động theo chủ nghĩa cộng sản, bèn xuống lệnh giải tán đảng ấy và bắt Lý Thụy giam trong hang đá ở Liễu Châu, ủy cho tướng Trương Phát Khuê chủ trương việc tập hợp các đảng phái cách mệnh Việt Nam lập thành một đảng để hành động cho có hệ thống. Trương Phát Khuê giao cho ông Hoàng Lương trù liệu việc ấy.
Ngày mùng 1 tháng mười năm 1942, ông Hoàng Lương chiêu tập ở Liễu Châu những người trong các đảng phái hay không có đảng phái để lập ra một đảng duy nhất gọi là Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội, gồm đại biểu các đảng sau đây:
  1. Việt Nam Phục Quốc Ðồng Minh Hội, có Hoàng Lương và Hồ Học Lãm làm đại biểu.
  2. Việt Nam Quốc Dân Ðảng, có Vũ Hồng Khanh và Nghiêm Kế Tổ làm đại biểu.
  3. Vô đảng phái, có Trương Bội Công, Nguyễn Hải Thần, Trần Báo, Trương Trung Phụng làm đại biểu.
Các đại biểu trước hết lập thành một ủy ban trừ bị do Nguyễn Hải Thần chủ tọa để xếp đặt mọi việc.
Lúc ấy Lý Thụy còn phải giam, ủy ban trừ bị đứng ra bảo đảm với chính phủ Trung Hoa, xin lĩnh ra để cùng làm việc. Theo lời một người Việt Nam có mặt trong hội nghị ấy đã nói: Lý Thụy có kết nghĩa với một người cộng sản Tàu tên là Hầu Chí Minh, làm chức thiếu tướng trong quân đội thuộc quyền chỉ huy của Trương Phát Khuê. Khi ở nhà ngục ra, ông muốn tỏ tình thân ái với bạn mới lấy tên là Hồ Chí Minh. Khi ông được tha ra, liền tuyên thệ xin hết lòng trung thành với Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội mà làm việc

Ðảng Việt Minh cộng sản có tổ chức rất chu mật và theo đúng phương pháp khoa học. Trong khi ông Hồ Chí Minh ở bên Tàu để chờ đợi thời cơ, ở trong nước đâu đâu cũng có cán bộ, ngấm ngầm hành động và tuyên truyền rất khôn khéo. Họ lợi dụng lòng ái quốc của dân chúng mà tuyên truyền Việt Minh không phải là đảng cộng sản, chỉ là một mặt trận gồm tất cả các đảng phái lấy lại độc lập cho nước nhà, vậy nên từ bắc chí nam đâu cũng có người theo.
Cách hành động của họ thì bất cứ công sở hay tư sở, hễ đâu có một tổ chức làm việc là có người của họ chen lấn vào, hoặc để tuyên truyền, hoặc để hoạt động theo chủ nghĩa họ. Ðảng viên cộng sản lại biết giữ kỷ luật rất nghiêm và rất chịu khó làm việc. Xem như Hội Truyền Bá Quốc Ngữ khi mới thành lập ở Hà Nội là có ngay những người cộng sản vào hội rồi, và những người nhận việc đi dạy học rất chăm, không quản công lao gì cả. Một tổ chức có kỷ luật và chịu khó làm việc như thế, làm gì mà không mạnh
Trong khi ấy ông Hồ Chí Minh ở bên Tàu vẫn cộng tác với Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội, không có tranh dành địa vị như những người khác, cứ làm việc của một đảng viên có kỷ luật. Cái khôn khéo của ông lúc ấy không để lộ cho ai biết ông là lãnh tụ đảng cộng sản Ðông Dương "


"Người cộng sản, khi đã hành động, hay dùng đến chữ giải phóng. Theo việc làm của họ, tôi vẫn chưa hiểu rõ nghĩa hai chữ ấy. Có phải trước kia có cái cũi giam người, bây giờ họ đem cái cũi kiểu mới đến bên cạnh rồi bảo người ta chạy sang cái cũi mới ấy, thế gọi là giải phóng không? Nếu cái nghĩa giải phóng là thế, thì cũi cũ hay cũi mới cũng vẫn là cái cũi, chứ có hơn gì?

Cứ như ý tôi, thì giải phóng phải theo đúng cái lẽ công bằng, làm cho người ta được ung dung thư thái, được hành động trong một cái khuôn khổ rộng rãi, ai nấy biết trọng quyền lợi của mọi người theo pháp luật đã định, không bị đàn áp và lừa dối, không bị bắt bớ và giết hại một cách ám muội, oan ức.
Ðàng này tôi thấy chế độ các nước cộng sản giống nhau như in cái chế độ chuyên chế thuở xưa. Người nào nói xấu hay công kích những người cầm quyền của đảng là phải tội bị đày, bị giết. Ai không sốt sắng theo mình thì bị tình nghi, phải chịu mọi điều phiền khổ. Nhân dân trong nước vẫn bị đàn áp lầm than khổ sở, riêng có một số ít người có địa vị to lớn là được sung sướng. Như thế thì giải phóng ở đâủ Giải phóng gì mà cả chính thể một nước phải nương cậy ở những đội trinh thám để đi rình mò và tố cáo hết thảy mọi người. Hễ ai vô ý nói lỡ một câu là bị tình nghi có khi bị bắt, bị đày v…v… thành ra nhân dân trong xã hội ấy lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, không biết ai là bạn là thù, mất hẳn sinh thú ở đời, thật trái với lời nói thiên đường ở cõi trần.
Trong những lời tuyên truyền của Việt Minh, thấy luôn luôn nói nào là hạnh phúc, nào là tự do, bình đẳng, mà sự thật thì trái ngược tất cả. Những lối họ dùng là nói dối, đánh lừa cướp bóc, giết hại tàn phá, không kiêng dè gì cả, miễn làm cho người ta mắc lừa hay sợ mà theo mình là được. Xem như lúc đầu Việt Minh tuyên truyền rầm rĩ lên rằng: “Nước Việt Nam đã được các nước Ðồng Minh cho hoàn toàn độc lập, và dân được tha hết các thứ thuế”. Thôi thì chỗ dân gian nghe nói thế chạy ùa ùa theo. Sau chẳng thấy độc lập đâu cả và dân lại phải đóng góp nặng hơn trước. Khi Việt Minh đã nắm quyền binh rồi, lại định các ngạch thuế, có người hỏi họ: “Sao trước kia các ông bảo tha hết các thứ thuế rồi kia mà?” Họ trả lời: “Ấy trước nói tha thuế, nhưng bây giờ chính phủ cần có thuế để làm mọi việc”. Nói thế thì uy tín của chính phủ để đâủ
Cái thủ đoạn của Việt Minh là dùng mọi cách bạo ngược, tàn nhẫn, giả dối, lừa đảo để cho được việc trong một lúc. Ngay như họ đối với Việt Nam Quốc dân đảng nay nói là đoàn kết, mai nói đoàn kết, nhưng họ vẫn đánh úp, vẫn bao vây cho tuyệt lương thực. Khi họ đánh được thì giết phá, đánh không được thì lại đoàn kết, rồi cách ngày lại đánh phá. Dân tình thấy thế thật là ngao ngán chán nản, nhưng chỉ ngấm ngầm trong bụng mà không dám nói ra. Nên dân gian thường có câu “nói như Vẹm”. Vẹm là do hai chữ Việt Minh viết tắt V M, đọc nhanh mà thành ra. " >> đoạn này trong cuốn tái bản năm 2017 bị cắt. Vậy mà bản 2017 cũng bị thu hồi

Sunday, July 2, 2017

Sử Việt 12 khúc tráng ca - Dũng Phan


Sẽ không cần nói thêm nhiều, đây là cuốn sách hay và sẽ là cuốn đầu tiên giới thiệu cho những ai đang muốn đọc lại sử việt mà không khô khan.
Nói là 12 khúc tráng ca kể về 12 vị anh hùng có bi có tráng nhưng thông qua từng câu chuyện, tác giả cũng lồng vào đó những còn vị vua , vị anh hùng chưa được nhắc đến bằng 1 khúc ca trong tác phẩm. Đó là:
1. Khúc Thừa Dụ
2. Ngô Quyền
3. Đinh Bộ Lĩnh
4. Lê Hoàn
5. Lý Công Uẩn
6. Lý Thường Kiệt
7. Trần Hưng Đạo
8. Hồ Quý Ly
9. Lê Lợi
10. Lê Thánh Tông
11. Nguyễn Huệ
12. 9 vị chúa Nguyễn và Nguyễn Ánh, Minh Mạng.

Sách còn các điểm sai sau:
  • Trang 255, "Nguyễn Thế Tổ" chứ không phải "Nguyễn Thái Tổ". 
  • Ttrang 252, "Trần Quang Diệu" thay cho "Lê Văn Duyệt"
  • Vụ Lý Huệ Tông nhường ngôi là 1224 và 1225 , thay vì "1422 và 1425"
  • "tựu chung" (trang 111 - phải viết tựu trung mới đúng)
  • "sát nhập" và "sáp nhập" liên tiếp nhau (trang 257)

Tuesday, June 27, 2017

Lịch sử Việt Nam - Từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX - Lê Thành Khôi


Cuốn sách viết về lịch sử từ thời kỳ nguyên thuỷ đến khi CMT8 thành công.
Điểm thích ở sách là 3 phần đầu: thiên nhiên, dân cư (giống như địa lý) rồi đến lúc hình thành vương quốc Nam Việt, sự hình thành tính cách dân tộc Việt Nam. Tôi đánh giá 3 phần này là tâm huyết và điểm mạnh của tác giả với sự nghiên cứu tìm hiểu sâu xa về địa lý lịch sử, nhân khẩu văn hoá trong giai đoạn đầu của nước Việt Nam.
Những phần còn lại từ Ngô Đinh Lê Lý Trần Lê Trịnh Nguyễn Tây Sơn và nhà Nguyễn, sự đô hộ Pháp và các phong trào khởi nghĩa thì lướt sơ qua , vắn tắt là chính. Cho nên tôi không đánh giá cao những phần còn lại.
Phần đầu chế độ chuyên chế cũng giúp giải thích các chức năng của từng Bộ trong chính quyền chuyên chế:
- Bộ Lại tuyển mộ công chức, ban tước phẩm >> Có thể xem là quan văn (Tương đương Bộ Nội Vụ hiện nay?)
- Bộ Hộ coi việc đinh điền thuế khoá >> Hộ là hộ dân
- Bộ Lễ coi việc triều đình lễ hội
- Bộ Binh lo việc thuyên bổ võ chức
- Bộ Hình đặc trách các hình phạt, duyệt lại nặng án (tương đương Chánh án Tối cao?)
- Bộ Công lo việc xây dựng
(Mỗi Bộ có 1 thương thư, 2 tham tri và 2 thị lang lập thành Hội đồng đưa ra mọi quyết định. Một thành viên không đồng ý là gửi lên vua xét.)
- Viện hàn lâm và Đô sát viện (thay thế Ngự sử đài) gồm có viên chức triều đình và thanh tra tỉnh giám sát hệ thống hành chính và tâu lên vua lời tiến gián.
- Nội vụ phủ, phụ trách việc giữ kho
- Tào chính ty coi việc vận tải và thu thuế đường sông, biển
- Khâm thiên giám phụ trách Đài thiên văn và làm lịch
- Thái y viên lo thuốc men trong cung.
- Bưu Chính ty gửi nhận các văn kiện hành chính
- Tôn nhân phủ: quản trị dòng họ nhà vua
- Nội các là văn phòng nhà vua (tương đương Quốc Hội?)
- Cơ mật viện phụ trách các quyết định chính trị và quân sự chính yếu (tương đương Bộ Chính Trị?)

Monday, June 12, 2017

Nhân gian nằm nghiên - Đặng Hằng (một người vợ của Trần Nhật Duật)


Truyện kể về đôi trai gái từ thế giới hiện đại lạc vào thời xưa trong giai đoạn nhà Trần chuẩn bị chiến đấu quân Nguyên lần 2. Về nội dung thì truyện cũng được, có ý tưởng gì đó như truyện Thanh Long Nhi lạc vào thời Tam Quốc khi 1 nam 1 nữ lạc vào thời xưa và nhập 1 vai trong thời đại đó. Truyện cũng dựa vào những góc khuất lịch sử không rõ ràng để hư cấu nhưng không làm thay đổi gốc lịch sử. Nhân vật được hư cấu vào vai người vợ trẻ vừa mới cưới của Trần Nhật Duật  trên đường về kinh sau chiến thắng quân Nguyên đã bị mất tích  trên sông.

Cái được thứ nhất của truyện là tác giả đã thành thật thừa nhận cái gì hư cấu cái gì có thật vào cuối truyện. Cái được thứ 2 là nội dung truyện cũng logic, với sự nghiên cứu lịch sử của tác giả đã khéo léo lồng vào từng mẫu chuyện, đó là cái hay của truyện. Về mặt yếu của truyện là có nhiều chỗ thừa thãi , bỏ đi cũng không  làm thay đổi nội dung, ví dụ như đoạn đầu và cuối khi lồng Bang Cơ và Tư Thành vào, chẳng để làm gì, chẳng liên quan gì, bỏ đi cho đỡ rối. Mặt yếu thứ 2 của truyện là thiếu lúc dẫn nhập vì sao Huỳnh và Bùi Phóng lạc vào thời xưa, không 1 câu dẫn nhập, đùng 1 cái 2 người rớt vào thời xưa.

Dưới đây cũng là 1 nhận xét dài trên tiki và tôi cũng đồng tình :
Nhân gian nằm nghiêng là hành trình ngược dòng lịch sử của Huỳnh, một cô gái hiện đại phước đức không mắc bệnh bánh bèo. Đừng liên tưởng tới thể loại xuyên không của ngôn lù. Bởi cái chuyện Nhân gian nằm nghiêng là ngôn lù thật y như chuyện Quang Trung cặp với Càn Long. Quang Trung là "tình yêu vĩ đại" của Nguyễn Ánh rồi nhé. Mình chia Nhân gian nằm nghiêng thành hai phần. Phần một: Suýt được Phần hai: Quá được Phần một, nói một cách văn hoa, thì là khoảng lặng trước cơn bão, là dòng sông yên ả với những đợt sóng ngầm. Mà hễ mạch truyện cứ nhẹ nhàng một chút thì rất có "triển vọng" mình sẽ bỏ sách xuống. Mình khoái mạch truyện nhanh, kịch tính, dồn dập. Và trên thực tế thì mình đã bỏ xuống thật. Rồi sau đó, do tiếc rẻ con chữ nên lại cầm lên Ngôn từ trong Nhân gian nằm nghiêng quả thực đáng đồng tiền bát gạo. Mình thích cái cách Hằng sáng tạo với con chữ, thích cái cách mà nét trẻ trung, hiện đại dung hòa với chất cổ xưa. Một phong cách đố tìm ra ở những tác phẩm dã sử được viết lên bởi một cây bút tên tuổi. Và mình tin điều đó sẽ giúp Nhân gian nằm nghiêng dễ dàng tiếp cận với giới trẻ hơn. Phần một còn là bức tranh toàn cảnh về văn hóa cổ xưa. Trang phục; kiến trúc; tục xăm mình; tục để tóc ngắn, cạo trọc đầu; ném trầu trao duyên; tết Đoan Dương, Trừ Tịch; lối xưng hô quân thần;... Mình phải ngả nón khâm phục sự kiên trì của Hằng trong việc tra cứu tư liệu lịch sử Việt Nam, một trong những tư liệu thuộc hàng khó tra cứu nhất thế giới (vì chiến tranh, loạn lạc và tự phá hoại). Thật may là Hằng không quá sa đà vào việc khoe khoang hiểu biết, nhồi nhét văn hóa vô tội vạ mà lạc luôn khỏi cốt chuyện. Hằng cũng khoe, nhưng khoe kín đáo. Hằng để cốt truyện tự nó dẫn dắt độc giả đến với cốt hồn của dân tộc. Vâng, Hằng rất khéo léo. Hãy như Hằng! :) Phần quá được của Nhân gian nằm nghiêng bắt đầu khi giặc Mông Nguyên tràn qua biên quan, ải Nội Bàng vỡ nát. Hưng Đạo vương đã có màn chào sân (lần hai) rất xứng đáng với tiếng tăm lừng lẫy. Đây là một trong hai trường đoạn mình thích nhất trong truyện. Còn thứ hai là cuộc đào thoát ngoạn mục của vua Trần ở Tam Trĩ nguyên, một trường đoạn hùng tráng đậm chất điện ảnh. Theo nguyên tắc cứ cái gì càng hay càng quý thì càng phải ủ kĩ, mình xin dừng phần này ở đây. Một điều nữa khiến mình mê mẩn là dàn trai đẹp trong Nhân gian nằm nghiêng cực kì hùng hậu, toàn những nhân vật nổi đình nổi đám: Trần Khâm, Nhật Duật, Quốc Toản, Ích Tắc,... cả Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn cũng đẹp lão. Và đặc biệt là Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng, anh này khiến mình lần đầu tiên trong đời nhận ra đầu trọc mới thật dễ thương ghê gớm. Tuy nhiên, tuyến nhân vật cũng là một điểm trừ của truyện. Quá nhiều nhân vật khiến khi phân chia đất diễn xong thì mỗi người chỉ được nửa mét vuông nho nhỏ. Nhân vật chính không nói, nhưng nhiều nhân vật phụ khá mờ nhạt, thậm chí có người mình còn không hiểu mục đích họ đến với thế giới này là gì nữa. Nhưng cũng không ảnh hưởng nhiều, bởi dù sao đấy cũng chỉ là kép phụ của phụ. Tội nghiệp khủng khiếp! :v. Tuy vậy, trong trường hợp Hằng muốn phát triển tiếp phần hai, thì cái chỗ thừa thãi này sẽ trở thành một dàn cast cực kì hứa hẹn. Một điều đáng tiếc nữa là yếu tố tình yêu trong truyện quá khan hiếm. Dàn cast từ nam đến nữ đều quá bận rộn với trọng trách giải cứu thế giới. Cái tình tiết mùi mẫn nhất là một anh nào đó trong bộ sậu trai đẹp (xin phép không tiết lộ danh tính) giữ khư khư cái khăn duyên của bạn Huỳnh tới tận hai mươi mấy năm. Điều duy nhất mình thốt lên được là: "Khăn mua đâu bền quá thể!" :| Cuối cùng mình xin chốt lại một câu thôi. Hãy đọc Nhân gian nằm nghiêng, hãy sống giữa những con người đã tạc tên mình vào sử sách, và cảm nhận hào khí Đông A cuộn trào trong huyết quản.

Sunday, June 4, 2017

Ngoài bờ đông là mặt trời - Trường An



Được giới thiệu là tiểu thuyết viết cho giai đoạn đầu triều Nguyễn Gia Miêu nhưng bố cục sách viết rối, lối viết theo dạng nhìn sự việc dưới góc nhìn nhiều nhân vật nhưng tác giả thay đổi liên tục trong cùng 1 chương dẫn đến người đọc khó nắm được nội dung truyền tải. Đối với những người không có kiến thức lịch sử thì không biết ai ra ai,tứ hoàng tử hay thập công chúa là người nào để đồng cảm cùng tác giả.


Cuốn tiểu thuyết lịch sử dở nhất,rối rắm,nội dung lộn xộn, không rõ ràng và khiến người đọc mơ hồ nhất mà tôi từng biết và đọc.
Phí mất mấy giờ đọc sách và cho nó xuống kệ sách bỏ đi