Thursday, October 29, 2009

Đại khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 - Dưới con mắt của các nhà báo và các chuyên gia kinh tế quốc tế



Nguyễn Văn Nhã tổng hợp và biên dịch
Nxb Tri thức
----------

Nội dung sách hầu hết là các bài báo, nhận xé, bài viết của một số chuyên gia knh tế, đa phần là được tập hợp từ Globe and Mail và La Presse, rất ít thấy nguồn dữ liệu khác.
Các bài báo được sắp xếp theo từng chủ đề, theo chuỗi thời gian để tiện việc theo dõi. Tuy nhiên, hầu hết là các bài viết ngắn nên không có sự phân tích sâu, những gì đọng lại sau khi đọc xong từng bài, thậm chí là cả cuốn là rất ít.
Tất nhiên, vẫn có những bài hay, cung cấp thông tin hữu ích như bài "Chi tiêu Nhà nước không dễ dàng" (trang 308).
Vẫn còn một số lỗi ghi chú của tiếng anh chưa đúng hoặc dịch thuật ngữ không dùng từ kinh tế thông dụng. Ví dụ: từ "thanh khoản" không thể đơn giản là "tài khoản thanh toán" (trang 20).
Tóm lại, mức độ thoả mãn khi đọc xong không cao, thậm chí thấp hơn kỳ vọng

Sunday, October 4, 2009

Tư Duy Kinh Tế Việt Nam 1975 - 1989 (Nhật Ký Thời Bao Cấp)

Tư Duy Kinh Tế Việt Nam 1975 - 1989 (Nhật Ký Thời Bao Cấp)
Tác giả: Đặng Phong.
Nhà xuất bản: Nxb Tri Thức

Ngày xuất bản: 08 - 2008


Tái bản có bổ sung (quý II 2009)



Theo Tuần Việt Nam

Bâng khuâng cùng "Nhật ký thời bao cấp"
(Thứ sáu, 28/11/2008 08:40:46 AM)

Khác với chiến tranh, thời bao cấp chỉ mới kết thúc cách đây chưa đầy hai thập niên, và hàng triệu nhân chứng của nó hiện giờ vẫn còn sống. Vẫn sống và vẫn nhớ như in những gì gắn với nó: con người, sự kiện, thói quen, hành vi, lời ăn tiếng nói; vô số chuyện cười, ca dao, tục ngữ, phim ảnh, bao nhiêu bi kịch, nước mắt, nụ cười… Tất cả đã tạo nên cả một nền văn hóa và là nguồn cảm hứng lớn cho nghệ thuật.

Đã có những bộ phim nổi tiếng: Chuyến xe bão táp, Hà Nội mùa chim làm tổ. Có những vở kịch của Lưu Quang Vũ: Tôi và chúng ta, Tin ở hoa hồng.

Có những bài ca mà giờ đây nghe hát lên, ai đã từng sống qua thời kỳ cả nước xếp hàng cũng thấy rạo rực "tinh thần bao cấp": Mùa xuân từ những giếng dầu, Bến cảng quê hương tôi…

Nhưng đó là những tác phẩm ra đời trong thời bao cấp. Còn các tác phẩm của "người bây giờ" viết về những năm tháng ấy thì nhìn chung chưa đủ sức phản ánh được một cách đầy đủ và chân thực cả một giai đoạn trong lịch sử đất nước. Ít nhất cũng chưa có cuốn sách nào đủ để làm người đọc phải bồi hồi cảm xúc khi đọc và nhớ lại một thời đã qua.

Xét ở khía cạnh đó, Tư duy kinh tế Việt Nam: Chặng đường gian nan và ngoạn mục 1975 - 1989 của Giáo sư Đặng Phong là một cuốn sách hay. Vì đó là cuốn sách phản ánh thời bao cấp một cách đầy đủ nhất từ trước đến nay, trên phương diện kinh tế.

Khách quan và khoa học

Cuốn “nhật ký” của Giáo sư lịch sử kinh tế Đặng Phong chia thời bao cấp thành ba giai đoạn: 1975 - 1979, 1979 - 1986, và 1986 - 1989, và bám sát theo từng chuyển biến, thay đổi của nền kinh tế trong ba giai đoạn đó.

Viết một cuốn sách lịch sử phải đảm bảo các tiêu chí chính xác, khách quan, khoa học. Tư duy kinh tế Việt Nam đã hướng tới đáp ứng những đòi hỏi đó, ở chỗ nó cung cấp rất nhiều thông tin và kiến thức lịch sử kinh tế.

Với nhiều bạn đọc, có thể nhờ cuốn sách này, lần đầu tiên bạn sẽ được biết về những giai đoạn cũng khá dầu sôi lửa bỏng đối với đất nước, như những năm ngay sau ngày thống nhất 30/4.

Đó là giai đoạn mà chúng ta "say sưa với thắng lợi", muốn "nhanh chóng thực hiện nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa", nên đã tiến hành cả ba cuộc cách mạng: khoa học kỹ thuật, văn hóa tư tưởng, quan hệ sản xuất.

Những cơ sở kinh tế ở miền Nam cũ bị xóa bỏ, tịch thu, quốc hữu hóa, người dân bị đưa đi vùng kinh tế mới để học tập thông qua lao động. Điều đó, như tác giả viết, đã đẩy hai triệu người vào con đường bất đắc dĩ: vượt biên!

Đó cũng là giai đoạn mà chúng ta tiếp quản cả một đất nước - một nền kinh tế, trong tình trạng thiếu kiến thức về quản lý và tư duy kinh tế thì còn khá ấu trĩ. Chính điều đó đã dẫn tới cuộc khủng hoảng kinh tế nặng nề về sau này, được tác giả phản ánh rất đầy đủ:

"Nông dân vẫn là tầng lớp khó khăn nhất. Năm 1977, trong dịp Tổng Bí thư đi thăm tỉnh Hà Nam Ninh, có hứa rằng chỉ vài năm nữa thì mọi nhà nông dân đều có TV, tủ lạnh…, thì bây giờ miếng cơm ăn cũng không có đủ, nhiều vùng đói to".

Bạn đọc cũng sẽ được chứng kiến, qua lời kể của hàng chục nhân chứng, những bi kịch thật sự của người dân. Ông Tư Tâm, Bí thư Tỉnh ủy Long An, kể lại về phong trào đưa dân đi vùng kinh tế mới: "Mỗi người được cấp một lô đất. Nhưng nhìn ra chỉ thấy cỏ mọc dày đặc. Máy ủi, máy cày không có. Phải cuốc bằng tay, chặt bằng dao. Làm sao họ sản xuất được? Có một ông người Hoa nhìn tôi rưng rức nước mắt và kêu trời: Tôi là giống người, tôi không phải giống trâu bò, tôi không ăn cỏ được!…"

Để đảm bảo tính khách quan và chính xác của thông tin, tác giả đã gặp và phỏng vấn hàng chục nhân vật như ông Tư Tâm, trong đó đặc biệt là những người đã từng làm việc gần gũi các cán bộ lãnh đạo - như ông Trần Việt Phương, nguyên trợ lý của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn; hoặc những gương mặt đóng vai trò quan trọng trong “cuộc chiến” đổi mới mà nổi lên là Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt. (Cuốn sách này cũng được tác giả trân trọng đề tặng: Để tưởng nhớ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt).

Dễ dàng nhận thấy mọi chuyển biến của nền kinh tế đất nước đều gắn chặt với những quyết định của các nhà lãnh đạo, được thể hiện ra thành những chủ trương chính sách của chính phủ. Bởi thế, nói là lịch sử thời bao cấp, nhưng cuốn sách thực chất ghi lại lịch sử chuyển biến tư duy kinh tế của những người điều hành đất nước.

Nhờ cuốn sách này, bạn đọc sẽ được biết cả thời kỳ "đấu tranh" giữa hai đường lối tư duy: bảo thủ và đổi mới. Bạn sẽ thấy rằng sự ra đời của cái mới cần sự quyết tâm, lòng can đảm và thậm chí, cả một chút may mắn đến từ thời cuộc. Tóm lại, cái mới cũng đòi hỏi sự trả giá.

Những trang viết lịch sử kinh tế đầy cảm xúc

Viết về lịch sử, mà lại là lịch sử kinh tế, tác giả rất dễ sa vào khuynh hướng kể lể, tầm chương trích cú, trình bày bảng biểu số liệu, hồ sơ cả tập, vừa khô cứng vừa… dễ thành nhàm chán.

Nhưng với Tư duy kinh tế Việt Nam thì khác. Giáo sư Đặng Phong, ngoài việc đưa vào những phát biểu, hồi tưởng chân thật của các nhân vật lịch sử, còn trích cả nhiều bài báo, tranh châm biếm cùng thời kỳ đó (từng đăng trên những báo Văn Nghệ, Lao Động, Đại Đoàn Kết v.v.).

Điều đó đã làm nên sự nhẹ nhàng cho cuốn sách, cũng là phong cách riêng trong cách viết sử của Đặng Phong.

Là một cuốn sách khoa học xã hội, nhưng - với văn phong của tác giả - Tư duy kinh tế Việt Nam cũng chứa đựng nhiều cảm xúc. Như là thái độ điềm tĩnh và xây dựng của Giáo sư Đặng Phong khi nói về những sai lầm mà giới lãnh đạo - do bị những giáo điều ngăn chặn tầm nhìn - đã mắc phải khi chuyển từ quản lý đất nước thời chiến sang quản lý kinh tế trong thời bình.

Như là sự cổ vũ cho những quyết tâm đổi mới, dựa trên kiến thức và tư duy khoa học; sự cổ vũ cho tinh thần ham học hỏi, dám nghĩ dám làm dám chịu trách nhiệm. Và, nổi lên trên tất cả, chúng ta có thể cảm nhận tình yêu nước của chính tác giả.

Nhưng quan trọng hơn, cuốn sách mang lại cảm xúc cho độc giả. Người đọc như cảm thấy bầu không khí ngột ngạt của "đêm trước đổi mới", như sống lại những năm tháng đen tối của khủng hoảng kinh tế, như được chứng kiến sự gay go và phức tạp của cuộc đấu tranh giữa hai đường lối cho đến khi cả nước thống nhất một tư tưởng: Đổi mới hay là chết?

Dĩ nhiên, cuốn sách không xao nhãng mục đích cao nhất là cung cấp kiến thức, nên có đầy đủ cả biên niên sử các sự kiện kinh tế cùng rất nhiều số liệu thống kê để thỏa mãn nhu cầu tra cứu của độc giả.

Nếu ở tác phẩm đồ sộ và công phu này có gì gọi là nhược điểm, thì đó là một cảm giác mơ hồ mà nó tạo ra cho người đọc: Dường như tác giả vẫn còn có những điều chưa nói hết, những chỗ phải bỏ qua hoặc tìm một cách nói giảm, nói tránh sự thật. Có thể đó cũng chỉ là một cảm giác mà chính cách viết nhẹ nhàng và điềm tĩnh của Giáo sư Đặng Phong đã mang tới.

Nhưng cho dù có thế, những gì cuốn sách mang lại vẫn là quá nhiều, quá đầy đủ so với tất cả những tài liệu về lịch sử kinh tế mà người đọc chúng ta từng tiếp cận kể từ năm 1975 đến nay.

Đoan Trang

Theo Báo Thể Thao & Văn Hoá
Con đường vòng vật vã
(Thứ tư, 22/10/2008 08:23:56 AM)

Cầm cuốn sách ngót 400 trang của Đặng Phong đã thấy ngại, trong khi xung quanh mình đầy ắp các kênh thông tin khác nhau. Thời gian mà Thượng đế ban tặng cho lại chỉ đúng có 24 giờ mỗi ngày, không hề nhiều hơn người khác.

Rồi tên sách nhấn mạnh vấn đề “tư duy kinh tế”, dường như hơi viển vông và xa xỉ so với thời buổi hàm lượng tính thực dụng ngày càng cao... Tôi định xem lướt, ghi nhớ những gì cơ bản trong nội dung với hy vọng khai thác tư liệu cho các bài viết sau này. Thế nhưng, sự hấp dẫn của cuốn sách đã khiến tôi không thể dứt ra được và đọc luôn một mạch.

Nhân vật ấn tượng nhất: Trường Chinh

Là một nhà báo kinh tế lâu năm, từ năm 1976, được chứng kiến một nền kinh tế hoang tàn sau chiến tranh, chứng kiến cuộc trở dạ vật vã hàng chục năm để ra đời công cuộc đổi mới, trong lòng tôi luôn có một điều trăn trở rằng một thời kỳ lịch sử đặc biệt của dân tộc, với những cung bậc thăng trầm tưởng như vượt quá sức chịu đựng của con người, liệu có được ai đó làm “Quan ngự sử” để ghi lại làm bài học cho con cháu mai sau?

Thật quý giá và đáng trân trọng tất cả những tư liệu lịch sử và những đánh giá của tác giả về những sự kiện, những nhân vật trong cuốn sách này. Đã hơn 10 năm sau cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại và thống nhất đất nước, các nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam không thể đành tâm nhìn những người dân thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu đủ mọi hàng hoá thiết yếu, tư liệu sản xuất… trong một nền kinh tế bao cấp khổng lồ hiếm có trên thế giới. Sai lầm bắt đầu từ đâu? Làm thế nào để sửa được nó? Thế là cuộc vật lộn trong tư duy ngay trong những nhà lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng và Nhà nước đã được tác giả ghi chép một cách khoa học, bình luận trên một nền tư duy của một nhà khoa học. Chỉ qua những dẫn chứng lịch sử kinh tế trong giai đoạn 1975-1989, người đọc có thể thấy được chân dung của nhiều nhà lãnh đạo như Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh, Võ Chí Công, Võ Văn Kiệt…, các cán bộ cao cấp tầm cỡ như Trần Phương, Nguyễn Ngọc Trìu, Ngô Duy Đông, Hoàng Hữu Nhân…, rồi các nhà kinh tế chiến lược như Đào Xuân Sâm, Trần Việt Phương, Hà Nghiệp, Lê Văn Viện, Võ Đại Lược… Để thay đổi tư duy kinh tế cho hệ thống chính trị của một đất nước không hề dễ dàng, mà dõi theo nội dung cuốn sách, tôi cảm giác nó ly kỳ và hấp dẫn đến nghẹt thở. Ở những nơi tôn nghiêm vào loại bậc nhất đất nước, chỉ sơ sảy một chút là có thể “thân bại danh liệt”, nhưng cuộc đấu tranh giữa tư duy cũ và mới vẫn xảy ra quyết liệt. Gay gắt có, mềm mỏng có, nhân nhượng có, sai lầm có, sửa sai có, đề bạt có, miễn nhiệm có, oan ức có…với những tư liệu thuyết phục.

Đọc xong cuốn sách, nhân vật ấn tượng nhất trong tôi lại là cố Tổng bí thư Trường Chinh. Ông là một trong những người lãnh đạo có trình độ học vấn cao và có phong cách lãnh đạo điềm đạm, chuẩn mực. Phương pháp tư duy và làm việc của ông là một phương pháp có bài bản. “Do đó đã có lúc ông xa rời thực tiễn của cuộc sống, dẫn tới những sai lầm nặng nề như trong cải cách ruộng đất, thời kỳ 1953 - 1956, trong việc phê phán cơ chế khoán ở Vĩnh Phúc năm 1968”. Đọc đến đây, tôi ngỡ tưởng rằng những con người có tư tưởng “tả khuynh” như vậy khó có thể là trung tâm của công cuộc đổi mới sau này. Thế nhưng tôi đã lầm hoàn toàn. Những tư liệu lịch sử trong cuốn sách đã chứng minh rằng Trường Chinh chính là người khởi xướng mãnh liệt nhất, kiên định nhất cho công cuộc đổi mới vĩ đại này. Sự hấp dẫn của cuốn sách một phần quan trọng là ở đây, bởi để một vị lãnh đạo cao nhất đất nước thay đổi tư duy thì phải có biết bao công sức của bộ máy giúp việc và sự trả giá cao của thực tiễn. Ông Mai Chí Thọ, lúc đó là Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh, viết: “Sau đợt đi kiểm tra tình hình thực tế ở một số địa phương và thành phố HCM, đồng chí Trường Chinh đã phát biểu: “Trước đây tôi đã nghe nhiều báo cáo sai lầm, không đúng thực tế”. Anh đã quay “một trăm tám chục độ” và đã tạo nên một bước ngoặt lịch sử cho cách mạng Việt Nam”.

Từ quan niệm ngoại kiều là “đạn bọc đường”…

Một ấn tượng nữa trong tôi là cuốn sách này, qua các tư liệu lịch sử, đã vẽ rất rõ nét một con đường vòng trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, tạo ra một sự lãng phí khủng khiếp trong việc khai thác các nguồn lực để phát triển. Trong nông nghiệp, khẩu hiệu “Người cày có ruộng” ban đầu được dẫn theo con đường Tổ đổi công, rồi HTX cấp thấp, HTX cấp cao, rồi khoán 100, rồi khoán 10 để trở lại đúng bản chất kinh tế của việc “Người cày có ruộng” cách đấy mấy chục năm. Về công nghiệp, từ tư bản dân tộc tiến lên công tư hợp doanh, sang công nghiệp quốc doanh rồi quay trở lai cổ phần hoá, cho phép phát triển kinh tế tư bản tư nhân, đầu tư nước ngoài, rồi Đảng viên được làm kinh tế tư nhân. Trong phân phối-lưu thông, từ chỗ Nhà nước nắm từ cây kim, sợi chỉ, lạng đỗ xanh, tấm lá giong giềng, quần áo, gạo, mỳ…cho đến khi không thể kham nổi, phải trao cho thị trường điều tiết. Con đường vòng ấy đã mất vài chục năm vật vã. Từ chỗ quan niệm việc gửi tiền, gửi hàng của bà con Việt kiều cho những người thân thích ở trong nước là những “viên đạn bọc đường”, đến nay, khi được coi đây là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng trong quá trình phát triển cũng tiêu tốn mất ngót nửa thế kỷ…Cái đáng quý của cuốn sách là ở chỗ do vẽ được con đường vòng mà nền kinh tế đất nước trải qua, đã chỉ ra con đường ngắn nhất để xây dựng đất nước Việt Nam phồn vinh, mà cho đến giờ này, còn nhiều quyết sách kinh tế của đất nước dường như vẫn phải đi vòng.

Sẽ là có lỗi nếu không có đôi lời giới thiệu về tác giả cuốn sách. Ông sinh năm 1939 tại Hà Tây, tốt nghiệp Khoa lịch sử ĐH Hà Nội năm 1960, ĐH kinh tế quốc dân 1964, nguyên Uỷ viên Hội đồng khoa học, trưởng phòng lịch sử kinh tế Viện Kinh tế Việt Nam, PTBT Tạp chí Thị trường - Giá cả… Ông từng tham gia nhiều đề tài khoa học cấp quốc gia về lĩnh vực kinh tế và được nhiều trường đại học và viện nghiên cứu nước ngoài mời thỉnh giảng. Ông tâm sự: “Lịch sử thời kỳ đổi mới không phải là và không thể là chặng đường chỉ toàn những thành tích và thắng lợi. Nó là một chặng đường đầy những thử nghiệm và khai phá gian nan, đầy những khó khăn, vấp váp, trong đó có cả những sai lầm, thất bại, rồi chính từ đó mới bật ra những bước sáng tạo, bứt phá”.

Tôi rất đồng tình với ông. Chính vì thế, bản thân những vật vã trên chặng đường gian nan ấy đã tạo nên sự cuốn hút của cuốn sách này.

Nguyễn Hoàng Linh

Mục lục:

Lời nói đầu

Nhập đề - những think tank xưa và nay

Chương 1: Giai đoạn 1975 – 1979

Tình hình kinh tế cả nước sau 1975

Tư duy kinh tế

Đường lối kinh tế

Chương 2: Giai đoạn 1979 – 1986

Tình hình kinh tế những năm 1979 – 1980

Tư duy kinh tế những năm 1979 – 1980

Bước đột phá đầu tiên về quan điểm kinh tế

Những đột phá ở cơ sở

Những chuyển biến đầu tiên về chính sách

Những khởi sắc trong đời sống kinh tế

Lập lại trật tự - bước lùi về tư duy 1983 – 1984

Những bứt phá về tư duy các năm 1984 – 1985 – vai trò lịch sử của Trường Chinh

Chương 3: Giai đoạn 1986 – 1989

Vòng xoáy 1986

Trường Chinh và việc chuẩn bị báo cáo chính trị cho đại hội Đảng lần thứ VI

Những nội dung chính của báo cáo chính trị

Đại hội Đảng lần thứ VI

Hai năm chuyển mình gian nan: 1987 – 1988

Những chuyển biến quan trọng trong chính sách kinh tế

Bước ngoặt 1989

Kết luận

Biên niên các sự kiện kinh tế

Tài liệu tham khảo

Bảng chỉ mục.


=> Sách được xuất bản bởi quyết định đột ngột để tưởng nhớ nguyên Thủ Tướng Chính Phủ - Võ Văn Kiệt, người được nhắc đến nhiều nhất, có công lao to lớn đối với sự nghiệp đổi mới tư duy kinh tế Việt nam. Tuy nhiên, sau khi đọc xong tác phẩm, tôi vẫn chưa thấy được hình ảnh về những đóng góp của nguyên Thủ Tướng Chính Phủ - Võ Văn Kiệt vẫn chưa được phác hoạ rõ ràng trong cả 3 giai đoạn được trình bày trong sách. Có thể những đóng góp này được tác giả nghiên cứu trong 2 giai đoạn sau trong công trình nghiên cứu của tác giả (giai đoạn 1990-1996 và 1997-2005).
Ngoài ra, đây cũng là cuốn sách việt nam đầu tiên tôi đọc có phần chỉ mục.
Tuy nhiên, tôi vẫn băn khoăn 1 điều, nếu như chưa có "cái tang lớn" và không có ý nghĩ đột xuất ấy thì phải chăng tác phẩm này vẫn chỉ là 1 công trình nghiên cứu để cho những người đa phần đã trải qua thời kỳ này đọc, chứ những người dân bình thường như tôi sẽ không có cơ hội tiếp xúc những nghiên cứu như vậy?

Sunday, September 27, 2009

Ngoài Vùng Lịch Sự


Ngoài Vùng Lịch Sự
Tác giả: Nguyễn Phương Thảo.
Nhà xuất bản: Nxb Văn Nghệ TP.HCM

Giới thiệu về nội dung
“Những điều tôi viết ra trong quyển sách này cũng là những điều mà tất cả các bạn đã từng thấy đâu đó trong cuộc sống của mình; những lần đi siêu thị, đi nhà sách, đi khám bệnh, đi ăn cưới, đi bát phố, đi du lịch… Tôi chỉ dụng công hơn các bạn ở chỗ tôi đã chịu khó tò mò quan sát, tẩn mẩn ghi chép lại và hả hê viết chúng ra như một cách xả stress, xả những bực bội vì những điều chướng mắt, những điều làm phiền hà, thậm chí là hành hạ chúng ta…

Có thể nhiều bạn sẽ nhăn mặt khi đọc những đoạn văn đầy chua cay, đầy mỉa mai khi tôi tập trung lôi một thối xấu nào đó ra, phóng đại nó dưới lăng kính của tôi và rỉa rói nó, từ thói quan liêu hống hách của những cán bộ tiếp dân ở các cơ quan công quyền (“Tiếp dân hay táp dân?!”), cho đến sự ích kỷ nhỏ nhen của những người hàng xóm đang sống cạnh chúng ta (“Những hàng xóm “trời ơi”…”). Thậm chí có bạn sẽ bảo: “Viết gì mà ác thế, chuyện bé xé ra cho to!”. Vâng, quả là những điều tôi kể trong sách đều bé, bé đến mức nhiều người trong chúng ta có thể lắc đầu rồi phẩy tay bỏ qua… Nhưng nếu tất cả chúng ta đề cho qua dễ dàng như thế, những đều be bé ấy sẽ được tiếp thêm dinh dưỡng để mà phình to ra từ từ đấy ạ. Thành ra, do cương quyết không chịu bỏ qua, tôi đã có cuốn sách nhỏ này.

Mong các bạn tiếp nhận cuốn sách của tôi, đọc nó - toàn những điều đã làm tôi và các bạn nhăn nhó - và … cười. Cười vào mỗi thói hư tật xấu, đó là chúng ta đã giương cung và bắn một mũi tên trúng vào nó đấy - Tác giả Nguyễn Phương Thảo.

Mục lục:

Đôi lời cùng bạn đọc

Ê mặt chuyện ngoài đường

Chữa bệnh cho bệnh viện

Những hàng xóm “trời ơi”

Kẹt xe, nghẽn văn hoá

… Ngoài vùng lịch sự

Tiếp dân hay tán dân?!

Chữ ăn cũng có mấy đường

Đừng tra tấn khách hàng bằng … quảng cáo!

Khuyến mãi, khóc ra tiếng gì?

Văn hoá “cơm hàng cháo chợ”!

Một lần chữa cháy

Chuyện một khu phố văn hoá

Văn hoá ATM: cần… bảo trì gấp!

“Trai Việt-index” còn bao nhiêu điểm?

“Gái Việt-index” còn bao nhiêu điểm?

Chung cư văn hoá ăn Tết!

Những căn bệnh của diễn văn

Thượng đế cũng bị… đày

Khi “mẹ ghẻ” phát rồ vì “con chồng”!

Tất cả vì Si-gem!

Những “vấn nạn” của đám cưới!

Du lịch nhưng thất… lịch!

Bờ-lốc “dơ”

Hiệu đính gấp văn hoá nhà sách!

Nỗi buồn buýt buýt

Những đồng nghiệp… mắm tôm!

Học chạy sao bằng học chen

Kinh khiếp… hội chợ!

=> sách đọc cũng vui và cũng "nhột nhột"
* Trích nội dung bài "Hiệu đính gấp văn hoá nhà sách!"
Nhà Sách, một ngôi nhà chứa đựng văn hoá và tri thức nhân loại. Nói theo ngôn ngữ dân gian thì đấy là chốn “hơi bị sang”. Nhưng có đi mới biết, nhiều chuyện chướng tai gai mắt vẫn phơi phóng công khai ở nơi này. Vì nhiều người lui tới nhà sách chả biết có nạp được tí lịch lãm nào không, lại thải ra vô số rác văn hoá làm ô nhiễm bầu không khí nơi đây!

Điều đáng buồn cười là nhiều khi chính những người đang tìm kiếm những kiến thức văn hoá để cho vào đầu thì lại có những hành động vô cùng mất văn hoá. Một anh chàng kính cận đậu mũi, nhìn cũng hình dong chải chuốt áo quần bảnh bao đứng đọc một cuốn “Hạt giống tâm hồn” ở kệ sách “Học làm người”. Đang đọc hứng thú thì vướng phải một trang sách chưa rọc, thế là chàng ta cáu tiết để sách xuống kệ, hành động y như trong phim võ hiệp Hồng Kông, dùng tay thay dao xé “roạc” một phát nghe ê cả răng! Sách thì bị thương còn “hạt giống”nọ gieo nhằm vào đất “tâm hồn” hoá. . . thạch nên cũng toi cơm!

Một số anh chị láu táu nhìn vào thì biết ngay là đương kim xì-tin, vừa đứng lật sách vừa nhóp nhép sing-gum trông rất sành điệu. Nhưng “pờ-rồ” hơn là cái kiểu nghếch mặt sang một bên, mắt vẫn không rời trang sách, chẩu môi phẹt một phát ghim ngay miếng bã sing-gum xuống sàn nhà hoặc góc kệ hàng. Nhiều khách hàng thư sinh khác lại có cái thói lấy sách đọc xong thì không để lại chỗ cũ, vứt nó nằm tênh hênh ngả ngớn, rồi lại lấy cuốn khác đọc, mặc xác cho đứa nào muốn xếp thì xếp! Chỉ cần vài anh đứng ngâm cứu dăm đầu sách là đã tanh bành té bẹ cái kệ sách con nhà người ta! Các cậu gà trống choai kéo băng kéo nhóm vào nhà sách lại có cái khoản táy máy, to mồm. Các cậu thăm thú các nơi rồi tụm lại ở kệ tạp chí thời trang, vừa đọc vừa hô hố bình phẩm những lời nghe rất bẩn tai về vòng 1 cô này, vòng 3 cô kia, chưa kể là ngứa tay vẽ vời nhăng nhít vào sách…

Có em gái nọ, nhân viên nhà sách đã trả lời “Nhật ký công chúa” hết hàng, em vẫn không tin, người ta vừa quay đi thì lập tức em chổng mông cúi xuống các ngăn sách cuối cùng (thường để sách dự trữ) để kiểm tra. Anh giai nào thấy em mặt mày nhăn nhó, mồm lầm bầm chửi rủa cô gái nọ thì cũng nghĩ em nên tìm Nhật ký… phù thuỷ thì thích hợp hơn cả? Sách mà em lấy cả chân để khoèo ra, rồi hùng hục bươi móc cứ như chọn khoai lang, khoai mì ngoài chợ thì quả là quá khiếp!

Lại có nhiều người chọn lựa chán chê cả mới sách nhưng trên đường ra quầy tính tiền thì sinh ra phân vân lưỡng lự, và cuối cùng là thảy đại mớ sách vào đâu đó cho rảnh nợ. Nếu may mắn thì mớ sách ấy sẽ được đoàn tụ với bà con họ hàng nhà sách tuy lắm lúc xét về đường phả hệ cũng có tức tưởi oan trái một chút. Như vợ chồng nhà bác Bill cựu tổng thống bên Mỹ danh giá là thế lại bị ném vào kệ kỹ thuật chăn nuôi phối giống heo bò dê ngựa gì đấy… Nhưng như thế vẫn còn may mắn chán! Vì nếu xui xẻo thì cũng có thể bị một quý cô dấm dúi vào một xó không những lạc loài mà còn phản văn hoá trầm trọng, như lọt vào đống… đồ lót bát nháo những dây với nhợ, hoặc kệ lủ khủ chai lọ tương cà mắm muối chẳng hạn (vì nhiều nhà sách thường nảy ra thêm khu vực bán đồ tạp phẩm tự chọn để tăng doanh thu). Trường hợp dã man hơn, nhiều khi bịch cá ba sa tẩm cà ri đông lạnh, nước nôi nhen nháo cũng tót lên nằm chung với các em sách khô ráo thơm tho, do bà nội trợ nào đấy tiện tay thảy vào vì không muốn mắc công đi trả hàng về chỗ cũ!

Nhiều bà mẹ đem con vào nhà sách với phương châm coi nhà sách như nhà…mình, có nghĩa đây là môi trường chăn thả tự do, “chúng mày phá được cái gì thì cứ phá!”. Ở những khu bán đồ lắp ráp, xếp hình, búp bê… các kệ hàng luôn trong tình trạng tơi bời hoa lá, vì thường xuyên là cảnh các mẹ lơ đễnh nhìn ngắm vu vơ khắp nơi để con tha hồ “làm giặc”; hoặc cả mẹ lẫn con hăm hở… khai quật tứ tung các kệ hàng, vứt bừa ra sàn các món không thích cho đến khi tìm được món ưng ý mới thôi. Có những bà mẹ cho con tự do xé bao bì, lấy hàng ra chơi chán chê rồi quăng lại. Thậm chí khi bị hư, gãy thì dúi món đồ chơi vào một xó nào đấy để phi tang…

Bà mẹ trẻ nọ mải mê dừng ở khu vực sách “Học cách làm mẹ”, lo coi sách quên cả coi con, để rồi khi bị nhân viên nhà sách mắng vốn vì trẻ làm hư đồ chơi thì tiến hành công tác giáo dục tư tưởng ngay tại chỗ bằng cách bợp cho thằng nhóc mấy phát… Tiếng mẹ hét, tiếng con gào, tiếng nhạc rền rĩ nghe cứ như xem lai-sô ban nhạc rạp nào đấy ngay trong nhà sách! Nhiều bà mẹ lại rất “năng động sáng tạo” khi dỗ con bằng cách khai thác “nguồn tài nguyên” tại chỗ: thằng nhóc đang ngoác mồm mũi dãi lòng thòng thì vơ ngay một con thú nhồi bông gần đấy cho thằng nhóc vần vò nặn vọt gặm nhấm chán chê rồi phũ phàng quăng đâu đó trên đường ra tính tiền. Chỉ tội cho ai mua con thú bông đấy vì có không ít nước dãi lẫn nước mũi tẩm đầy trong ấy!

Ở nhiều nhà sách, khu vực sách nông nghiệp, kỹ thuật, tôn giáo chính là… vùng sâu vùng xa nhưng lại thường được các đôi “uyên ương nhà sách” chiếu cố tới. Theo đúng kiểu “sống là không chờ đợi” nên có rất nhiều anh chị loi choi tranh thủ chọn những góc này để… xen canh, vừa giở sách lại vừa… lật nhau. Các đôi uyên ương cứ thế mà rúc rích tâm tình, hôn hít sờ soạng nháo nhác trước mặt thiên hạ lẫn trẻ nhỏ!

Vào những đợt hội sách, giảm giá sách, có sách “hot” mới về…thì những tiết mục thường xảy ra ở chợ cá-màn xô đẩy chen lấn, giành giựt, la lối… vốn chỉ có ở các bà hàng tôm hàng cá với nhau thì nay áp vào cả những khách hàng có vẻ nho nhã đến nhà sách.
Văn hoá như thế trong nhà sách thì kinh hãi lắm thay!

Sunday, July 26, 2009

Truy Tìm Căn Nguyên Tăng Trưởng


Truy Tìm Căn Nguyên Tăng Trưởng
Tác giả: William Easterly. - Dịch giả: Nhiều Tác Giả.
Nhà xuất bản: Nxb Lao động Xã hội


(TuanVietNam)

4 năm trước, công chúng xôn xao với chủ đề "Cơ hội của Thánh Gióng", làm thế nào tập hợp sức mạnh dân tộc để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, sớm biến Việt Nam thành cường quốc. Giờ đây, không thấy ai nói tới những chuyện "thần kỳ" như vậy nữa.

Sự thực là sự thần kỳ cũng đã diễn ra ở nhiều quốc gia Đông Á. Những vùng đất xưa là cánh đồng lúa, khu ổ chuột chỉ sau 15, 20 năm phát triển bỗng trở thành những khu cao ốc chọc trời như khu Phố Đông ở Thượng Hải. Tuy nhiên, điều tương tự đã không diễn ra ở đa số các quốc gia đang phát triển ở nhiều châu lục khác.

Việt Nam cũng được liệt vào danh sách các quốc gia có tốc độ tăng trưởng khá cao sau hơn 20 năm đổi mới. Nhưng chất lượng, chiều sâu và độ bền vững của tăng trưởng lại bị nghi ngờ. Sự phát triển dựa vào tăng vốn đầu tư và lao động giản đơn hơn là tăng năng suất nhờ cải tiến công nghệ.

Để tăng trưởng với số lượng và chất lượng tốt hơn, vẫn nghe nhiều quan chức, học giả lên tiếng đại loại như: chúng ta cần sử dụng hiệu quả hơn nữa viện trợ phát triển chính thức ODA, chúng ta phải thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư nước ngoài FDI, chúng ta nhất định phải phát triển nền giáo dục, chúng ta nhất thiết phải coi đầu tư vào khoa học công nghệ là ưu tiên hàng đầu…

Rất nhiều "cần", "phải", "nhất thiết", "nhất định". Rất nhiều "mệnh lệnh" đã được đưa ra nhưng vốn ODA vẫn bị xà xẻo, FDI vẫn chậm giải ngân, giáo dục và công nghệ vẫn chậm được cải thiện. Mệnh lệnh, hô hào, khẩu hiệu càng nhiều thì hiệu quả càng ít, xưa nay vẫn vậy…

Câu chuyện trên không chỉ diễn ra ở Việt Nam mà ở rất nhiều quốc gia khác. Các kế hoạch, chính sách, khuyến nghị phát triển… hoặc không được thực thi, hoặc được thực thi thì cũng không mang lại hiệu quả mong muốn trong thực tiễn.

Tại sao lại như vậy? Nhà kinh tế học William Easterly trả lời trong cuốn Truy tìm căn nguyên tăng trưởng.

Con người hành động vì động cơ

William là từng là chuyên gia của Ngân hàng thế giới (WB) về viện trợ và phát triển cho các nước thế giới thứ 3. Hơn 15 năm làm việc ở WB, ông có điều kiện khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố vẫn được coi là "thần dược" cho tăng trưởng kinh tế như: viện trợ, đầu tư, giáo dục, giảm dân số, xóa nợ…

Kết quả khảo sát của William Easterly khá bất ngờ: các thần dược trên không hoàn toàn có mối tương quan tỉ lệ thuận với tăng trưởng. Ở rất nhiều quốc gia, các yếu tố trên thì có nhưng tăng trưởng thì không.

William lý giải thực tế trên bằng một nguyên tắc cơ bản trong kinh tế học: Con người ai cũng hành động vì động cơ.

Để cho dễ hiểu, hãy thử hình dung trong một doanh nghiệp nhà nước có một giám đốc lo cho việc công thì ít mà tìm cách tư túi thì nhiều. Sử dụng vốn nhà nước và lại ít bị kiểm soát, ông không có động cơ phải kinh doanh hiệu quả nên sẽ mặc sức lãng phí, tham nhũng. Nhân viên công ty cũng dễ có xu hướng hành động theo kiểu "biến tài nguyên công ty thành tài sản cá nhân."

Trong tình huống này, nhà nước tiếp tục rót thêm tiền để công ty đầu tư vào máy móc, thiết bị cũng không mang lại hiệu quả vì đơn giản, toàn bộ công ty không có động cơ để kinh doanh hiệu quả.

Có tìm cách giáo dục đào tạo nhân viên cũng chẳng ích gì bởi nhân viên không có động cơ phải học để nâng cao trình độ chuyên môn. Nếu mang quà cáp đến nhà sếp dễ được đề bạt hơn có năng lực thật thì không ai cảm thấy được khuyến khích phải phát triển năng lực cả.

Công ty vay ngân hàng quá nhiều tới mức không có khả năng chi trả, nhà nước tìm cách xóa nợ hay cho vay lãi suất thấp để công ty có điều kiện vực lại. Nhưng các giải pháp trên cũng chỉ mang tính tình thế, công ty thiếu động cơ để phát triển lại càng được thể, tiếp tục vay vốn ưu đãi để thực hiện những dự án hiệu quả thấp, thất thoát cao.

Tóm lại, mọi nỗ lực đầu tư, viện trợ, xóa nợ, giáo dục mà nhà nước ưu đãi cho công ty trên đều vô nghĩa. Các thần dược trên không thể thúc đẩy tăng trưởng khi mà bản thân công ty và những người lãnh đạo vô trách nhiệm của nó không có động lực phải tăng trưởng.

Điều tương tự cũng diễn ra ở cấp độ quốc gia với một chính phủ vô trách nhiệm, mọi thần dược giúp các nước này phát triển cũng như muối bỏ bể. William Easterly lý giải:

"Tăng thêm máy móc sẽ trở thành vô ích khi thiếu động lực phát triển. Có thể máy móc sẽ tạo ra những sản phẩm không ai mong muốn hoặc máy móc thì có nhưng những yếu tố sản xuất đầu vào thì lại không" hoặc "nếu không có động cơ để đầu tư cho tương lai thì việc mở rộng giáo dục chẳng còn mấy giá trị. Cho dù bạn bị buộc phải đến trường thì điều đó cũng không làm thay đổi động cơ để bạn đầu tư vào tương lai. Ở một đất nước mà hoạt động duy nhất đem lại lợi nhuận là vận động hành lang để tìm kiếm ân huệ thì tạo ra những lao động có tay nghề cao không phải là chìa khóa của thành công."

Một chính phủ không bị kiểm soát và cân bằng bởi các lực lượng khác trong xã hội sẽ rất dễ dẫn tới tình trạng vô trách nhiệm. Chính phủ đó có thể bóp chết tăng trưởng bằng cách dễ dàng nhất là triệt tiêu, kìm hãm động cơ. William chỉ ra trong cuốn sách nhiều dạng thức qua đó chính phủ trực tiếp hay gián tiếp kìm hãm động cơ của xã hội từ tham nhũng, lạm phát, thâm hụt ngân sách tới duy trì tỉ giá chợ đen cao… Khi đó, các nỗ lực phát triển đều dậm chân tại chỗ.

"Thần dược" - có hay không?

Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới từ năm 1986. Đó có thể coi là cuộc giải phóng động cơ lớn lao. Chấp nhận quyền tự do sở hữu tư nhân, tự do kinh doanh đã khiến cho mỗi cá nhân tìm thấy động cơ làm giàu, động cơ phát triển. Mức tăng trưởng khá cao trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua là kết quả của cuộc giải phóng động cơ đó.


Dù vậy, giải phóng động cơ là cần thiết nhưng chưa đủ. Còn cần làm nhiều hơn thế để biến những khu ổ chuột thành cao ốc. Ngay cả khi không bị kìm hãm bởi chính phủ thì cũng không có gì đảm bảo rằng những người dân ở các quốc gia nghèo có được động lực và khuyến khích cần thiết để vươn lên mạnh mẽ hơn. Họ vẫn có xu hướng quẩn quanh trong vòng tròn tiêu cực của thiếu kỳ vọng, niềm tin và nỗ lực.

Việt Nam cũng đang ở ngưỡng loay hoay tìm một con đường phát triển khác với kiểu tăng trưởng theo chiều rộng như hiện nay. Nhiều học giả đã đề cập tới sự cần thiết của một cuộc đổi mới thứ hai, thay đổi căn bản để quá trình phát triển có được bước ngoặt, chất lượng và bền vững hơn. Nhưng thực hiện điều đó trên tư tưởng nào? William Easterly đã rút ra được một số kết luận có giá trị.

Cuốn sách không đưa ra một công thức hay "thần dược" nào cụ thể, nhưng những người làm chính sách ở Việt Nam có thể tìm thấy nhiều gợi mở và khuyến nghị quan trọng cho quá trình đổi mới tiếp theo.


=> lối viết của cuốn này cũng khá lạ nhưng nhiều kiến thức đã lặp đi lặp lại ở các cuốn khác như "Toàn cầu hoá và những mặt trái" hay "Những kẻ giấu mặt trong nền kinh tế châu Á". Tuy nhiên, đọc cuốn này thì thấy hay nhất là "Câu chuyện về hiệu suất tăng dần, sự lan truyền, kết hợp và những cái bẫy" trong phần "Con người hành động vì động cơ". Chương này nói lên tầm quan trọng của việc đầu tư vào tri thức nhưng đồng thời cũn chỉ ra rằng, nếu ko có động cơ thúc đẩy thì sẽ không có sự đầu tư và lan truyền của tri thức. Ví dụ như: quy tắc ra quyết định một cá nhân X về lựa chọn hợp lý việc có đầu tư cho tri thức của anh ta hay không sẽ là tai hại đối với đất nước nhưng ít gây hại cho bản thân anh ta (cái này giống như prisoner's dilemma trong game theory). Một quốc gia có trình độ kỹ năng trung bình thấp sẽ bị kìm hãm tại mức này do không có ai cảm thấy việc đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng là cần thiết. Những người được đào tạo trong xã hội có rất ít tri thức sẽ không được hưởng nhiều lợi ích như những người sống trong xã hội có nhiều tri thức do khả năng lan truỳên tri thức cũng thấp hơn nhiều. Chính vì thế, động cơ tự đào tạo sẽ yếu dần đi.
Các phần khác của cuốn sách không để lại nhiều ấn tượng cho lắm..

Monday, June 15, 2009

Sự Trở Lại Của Kinh Tế Học Suy Thoái Và Cuộc Khủng Hoảng Năm 2008


Sự Trở Lại Của Kinh Tế Học Suy Thoái Và Cuộc Khủng Hoảng Năm 2008
Tác giả: Paul Krugman. - Dịch giả: Nhiều dịch giả.
Nhà xuất bản: Nxb Trẻ
Số trang: 256
Hình thức bìa: Bìa mềm
Kích thước: 14,5 x 20,5 cm
Ngày xuất bản: 05 - 2009

Giới thiệu về nội dung (Vinabook)

Chủ nhân duy nhất của Nobel Kinh tế 2008 đã diễn giải sự tương đồng kỳ lạ giữa cuộc khủng hoảng hiện tại và những sự kiện đã gây ra Đại suy thoái 1929-1933; và giải thích những phương cách để tránh khỏi thảm họa.

Đa số các nhà kinh tế, trong mức độ mà họ suy nghĩ về đề tài này, đều cho rằng cuộc Đại suy thoái của thập niên 1930 chỉ là một thảm họa vu vơ và không cần thiết. Phải chi Herbert Hoover không cố gắng cân bằng ngân sách trong bối cảnh kinh tế suy thoái; phải chi Cục Dự trữ Liên bang không bảo vệ chế độ bản vị vàng bất chấp cái giá phải trả là nền kinh tế quốc nội; phải chi người ta cung cấp thanh khoản cho các ngân hàng gặp khó khăn để làm dịu sự sợ hãi trong hệ thống ngân hàng gặp khó khăn để làm dịu sự sợ hãi trong hệ thống ngân hàng những năm 1930-1931… thì vụ sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1929 cũng chỉ dẫn tới một cuộc suy thoái bình thường, không đáng để ý và chắc chắn sẽ rơi vào quên lãng. Do các nhà kinh tế và những nhà làm chính sách đã “thuộc bài”… dường như một cuộc Đại suy thoái tương tự sẽ không bao giờ có cơ may xảy ra nữa.

Liệu điều này có đúng hay không?

… Ngoài ra, dù mục tiêu sau cùng của cuốn sách là phân tích (analytical), đa phần nội dung lại bao gồm lối văn kể chuyện (narrative). Một phần là vì thứ tự trước sau của các sự kiện (ở đây có thể xem như cốt truyện) là một minh chứng quan trọng cho ý nghĩa và tính chính xác của lý thuyết đề ra (chẳng hạn, quan điểm “chính thống” về khủng hoảng kinh tế xem khủng hoảng là một hình phạt đích đáng dành cho một số nền kinh tế, đã không thể được biện minh khi đối mặt với thực tế: vài nền kinh tế có vẻ ngoài rất khác biệt cùng gặp khủng hoảng trong vài tháng gần nhau – một sự trùng hợp đặc biệt thú vị!). Ngoài ra, tôi cũng nhận ra rằng các sự kiện nối tiếp nhau cũng cung cấp bối cảnh cần thiết cho các nỗ lực tìm hiểu và giải thích của tôi, và rằng không phải ai cũng có điều kiện theo dõi sâu sát những sự kiện đặc biệt kịch tính trong mười tám tháng vừa qua. Cũng như ít ai nhớ chính xác những gì Thủ tướng Mahathir phát biểu tại Kuala Lumpur hồi tháng 8 năm 1997 và liên hệ chúng với những gì Donald Tsang đã làm ở Hongkong một năm sau đó! Trong những trường hợp như vậy, những câu chuyện được kể trong cuốn sách này sẽ giúp các bạn cùng hồi tưởng lại và suy ngẫm…

Theo Tuần Việt Nam
Sự trở lại của kinh tế học suy thoái
(Thứ năm, 21/05/2009 02:37:08 PM)

Krugman viết cuốn Sự trở lại của kinh tế học suy thoái vào năm 1999. Sau đó đúng 10 năm, cuốn sách được tái bản với nhiều phần bổ sung. Sự trở lại của cuốn sách giờ đã mang một ý nghĩa khác hẳn, không chỉ bởi tác giả của nó vừa mới đoạt giải Nobel Kinh tế năm 2008, mà còn bởi, cũng năm ấy, một cuộc khủng hoảng kinh thiên động địa đã trở lại như những dự phóng của ông.

Hài hước và bình dân, Krugman đã không dùng những thuật ngữ và mô hình hàn lâm để lý giải khủng hoảng. Ông viết bằng thứ ngôn ngữ đời thường để những người bình thường có thể hiểu được những gì đang diễn ra trong một thế giới kinh tế phức tạp. Thi thoảng, Krugman đơn giản hóa thế giới đó bằng những ẩn dụ và so sánh ngộ nghĩnh.

Krugman đã khảo sát các cuộc khủng hoảng kinh tế và ông nhận thấy dường như mọi cuộc khủng hoảng đều có một điểm chung: niềm tin tiêu cực tự nó biến thành sự thật. Cho dù niềm tin tiêu cực thể hiện ở thị trường tiền tệ, thị trường tài chính, thị trường bất động sản hay thị trường hàng hóa tiêu dùng thì chúng cũng tạo ra những hệ luỵ nguy hiểm cho nền kinh tế. Suy thoái chìm sâu vào suy thoái, khủng hoảng lại tạo ra khủng hoảng.

Cuộc khủng hoảng năm 2008 cũng hoàn toàn tương tự như thế, nó là sự tổng hợp nhiều đặc điểm của toàn bộ những cuộc khủng hoảng đã từng diễn ra. Và cho tới bây giờ, vẫn thấy chỉ có liều thuốc là các gói kích thích kinh tế, mở rộng tín dụng.

Krugman cũng không đưa ra được giải pháp nào mới trong ngắn hạn ngoài việc kêu gọi kích thích tín dụng: "nếu những gì đã làm là chưa đủ, phải tiếp tục làm và làm cả những việc khác, cho đến khi tín dụng bắt đầu chẩy và nền kinh tế thực bắt đầu hồi phục."

Trong dài hạn, Krugman cũng chỉ nhấn mạnh sự cần thiết của việc điều tiết thị trường tài chính và quản lý quá trình toàn cầu hóa tài chính sao cho chúng không đi theo những quỹ đạo rủi ro quá mức. Đây cũng không phải là những ý mới.

Thế giới thực tất nhiên phức tạp hơn nhiều so với vườn trẻ trong giả định của Krugman. Quản lý nền kinh tế thực chắc chắn cũng phức tạp hơn hợp tác xã giữ trẻ giả định trên. Nhưng có vẻ các suy thoái trong hai thế giới đó khá giống nhau về bản chất tự nhiên của chúng và giải pháp loại trừ khủng hoảng cũng không có gì cao siêu ngoài việc “bơm” coupon nhiều hơn nữa. Cho dù, lịch sử đã chứng minh biện pháp đó không phải lúc nào cũng hiệu quả và thực hiện được.

Nếu thế thì, 2008 sẽ chưa thể là cuộc khủng hoảng cuối cùng và Krugman cũng không tự "vơ" vào mình trách nhiệm kê ra "toa thuốc miễn dịch" khủng hoảng cho bất kỳ nền kinh tế nào, điều ông làm được, có chăng là những kiến giải minh triết và đi vào bản chất mà thôi.

Khánh Duy

(Nguồn: Báo Tuần Việt Nam)

=> Sách viết theo lối bình dị, dễ hiểu cả cho những người ít chuyên môn về kinh tế vì sử dụng nhiều ví dụ đơn giản để minh hoạ. Một loạt những cuâ chuyện từ khủng hoảng những năm 30 ở Mỹ đến khủng hoảng Argentina, Thailand, Malaysia ... sự sụp đổ của Bảng Anh, quỹ LTCM... Tuy nhiên, "cảm giác" rằng những ý kiến trong phần cuối có vẻ "hơi nhạt". Dù sao, đây cũng là cuốn đáng đọc để có một hệ thống thông tin về suy thoái từ trước đến nay.

Update 31 Jul 2009:
Free download here (english version)

Thursday, May 28, 2009

Tư Duy Chiến Lược



Tư Duy Chiến Lược (Lý Thuyết Trò Chơi Thực Hành)
Tác giả: Avinash K.Dixit. Bary J.Nalebuff. - Dịch giả: Lê Ngọc Liên. Nguyễn Tiến Dũng.
Nhà xuất bản: Nxb Tri Thức

Giới thiệu về nội dung
Tư duy chiến lược là nghệ thuật vượt qua đối thủ cạnh tranh, với nhận thức rằng họ cũng đang cố gắng vượt qua mình. Mỗi chúng ta đều phải áp dụng tư duy chiến lược cách này, hoặc cách khác tại nơi làm việc và ngay ở nhà. Thương gia và các doanh nghiệp sử dụng những chiến lược cạnh tranh phù hợp để tồn tại. Chính trị gia phải tạo ra những chiến lược quảng bá để được trúng cử và đưa ra những chiến lược hành pháp để thực hiện được những định hướng của họ. Các huấn luyện viên bóng đá vạch ra các kế hoạch chiến lược để các cầu thủ tiến hành trên sân bóng. Các bậc cha mẹ muốn giúp giáo dục con cái cũng phải trở thành những nhà chiến lược nghiệp dư. Trong 40 năm qua, những chiến lược điều tiết siêu năng lượng hạt nhân đã đảm bảo sự sinh tồn cuả trái đất.

Tư duy chiến lược đúng đắn trong nhiều hoàn cảnh khác nhau vẫn luôn là một nghệ thuật. Nhưng nền tảng của nó được xây dựng trên một số nguyên tắc cơ bản - một khoa học về chiến lượ. Mục đích của tác giả trong việc viết cuốn sách này là người đọc từ những lĩnh vực và nghề nghiệp khác nhau có thể trở thành những nhà chiến lược giỏi hơn nếu họ biết được những nguyên tắc này.

Ngành khoa học xã hội chuyên nghiên cứu quá trình ra các quyết định chiến lược được gọi là " Lý thuyết trò chơi ". Các trò chơi trong lý thuyết này bao gồm từ chơi cờ đến nuôi dạy trẻ, từ quần vợt đến các thương vụ thâu tóm trong kinh doanh, từ quảng cáo đến kiểm soát chạy đua vũ trang. Để chơi được những trò chơi này đòi hỏi rất nhiều loại kỹ năng khác nhau. Các kỹ năng cơ bản như khả năng ném trúng bóng vò rổ, sự am hiểu về các tiền lệ trong luật, hay chơi bài pôkê, thuộc về một loại kỹ năng, tư duy chiến lược là một loại khác.Tư duy chiến lược bắt đầu từ những kỹ năng cơ bản của bản thân bạn và xem xét xem làm thế nào để sử dụng chúng một cách tốt nhất. Là một luật sư bạn phải ra một quyết định có tính chất chiến lược để bảo vệ thân chủ của bạn. Là huấn luyện viên biết được đội bóng đá của bạn chuyến bóng hay dẫn bóng tốt đến đâu và đội kia phản ứng lại trước mỗi chọn lựa như thế nào, là huấn luyện viên bạn sẽ phải ra quyết định nên chuyền bóng hay dẫn bóng, tư duy chiến lược còn có nghĩa là biết khi nào không nên chơi.


" Nghệ thuật cạnh tranh được cập nhật trong cuốn sách này bởi Dixit và Nalebuff. Họ đã làm cho các công cụ chiến lược trở nên hài hước, gần gũi với con người và hiệu quả " (Elizabeth Bailey, Đại học tổng hợp Carnegie Mellon)
" Tôi phải thú nhận rằng tôi chưa bao giờ nghĩ về các chiến lược tiền tệ như một trò chơi, nhưng giáo sư Dixit và Nalebuff đã thành công rực rỡ và khi làm sáng tỏ những vấn đề chúng ta hằng đối mặt khi phải đưa ra những quyết định, dẫu vấn đề đó là vi mô hay vĩ mô " (Paul A.Volcker Đại học tổng hợp Princeton)
" Tư duy chiến lược cho bạn những công cụ cốt yếu để đàm phán hiệu quả " ( Bob Woolf, tác giả cuốn sự thuyết phục hoàn toàn)
" Để hiểu biết về hiện tại, bạn cần một sự hiểu biết khái quát về Lý thuyết trò chơi. Dixit và Nalebuff đã cung cấp cho bạn những chìa khoá cốt yếu. Bạn sẽ gặt hái được nhiều điều bổ ích và thú vị từ cuốn sách này " ( Paul Samuelson Giải Nobel Kinh tế 1970)

Mục lục:
Lời bạt
Lời giới thiệu
Phần 1:
1. Mười câu chuyện chiến lược
2. Đoán câu trả lời của đối thủ
3. Tư duy xuyên qua chiến lược đối phương
Lời bạt cho phần 1
Phần 2:
4. Hoà giải nghịch cảnh người tù
5. Các bước đi chiến lược
6. Cam kết đáng tin
7. Tính bất đoán
Lời bạt cho phần 2
Phần 3:
8. Kề miệng hố chiến tranh
9. Hợp tác và phối kết
10. Chiến lược tranh cử
11. Thương lượng
12. Các động cơ khuyến khích
13. Các bài tập tình huống khác

=> cuốn này đọc hay, đọc xong kiếm được mấy thủ thuật. Thích cái trò đấu giá trả theo giá người thứ 2 và trò cam kết trả phần chênh lệch nếu có nơi nào bán giá thấp hơn.

Sunday, February 15, 2009

Tư Tưởng Kinh Tế Kể Từ Keynes - Economic Thought Since Keynes - Michel Beuad


Tác giả: Michel Beaud. Gilles Dostaler. - Dịch giả: Nguyễn Đôn Phước.
Nhà xuất bản: Nxb Tri Thức
Số trang: 696
Hình thức bìa: Bìa mềm
Kích thước: 16 x 24 cm
Ngày xuất bản: 11 - 2008
Trọng lượng: 1100 gram
Giá bìa: 140.000 VNĐ

Sách này giới thiệu tư tưởng kinh tế kể từ khi tác phẩm Lí thuyết tổng quát của Keynes được xuất bản. Sách hướng dẫn đến những ai muốn tự định hướng trong mê cung của tư tưởng kinh tế đương đại. Đặc biệt sách nhắm đến sinh viên, giảng viên kinh tế và giảng viên các khoa học xã hội. Và cả những nhà kinh tế chuyên sâu vốn thường quen thuộc với những tác giả và những cuộc tranh luận trong chuyên ngành của mình sẽ tìm thấy ở đây một công cụ làm việc và tham khảo cho những lĩnh vực nghiên cứu khác.

Quyển sách này nhằm trình bày toàn bộ những chuyển động đã để lại dấu ấn trong tiến trình tư tưởng kinh tế kể từ cuộc cách mạng keynesian. Chủ yếu tập trung vào nội dung trung tâm của khoa học kinh tế đương đại, và do đó tập trung vào những phân tích, chủ đề và tranh luận cơ bản, sách này nhằm trình bày một cách tổng quát và có hệ thống những điểm cốt lõi hướng đến ba mục tiêu: làm cho số đông công chúng dễ nắm bắt bộ môn, cung cấp cho các chuyên gia một số thông tin được kiểm tra chặt chẽ, và khai thông vài hướng kiến giải.

Tóm lại, để trình bày tiến hóa của tư tưởng kinh tế đương đại, điều cần thiết là phải phối cảnh song song tiến hóa của tư tưởng này với những cuộc tranh luận giữa các trào lưu và phần trình bày của tác giả, với những đặc điểm và hành trình tư tưởng của họ. Chính vì thế bạn đọc sẽ tìm thấy trong quyển sách này:

- Trước hết là một phác thảo diễn tiến của lịch sử tư tưởng kinh tế qua đó trình bày - bằng cách tránh những đơn giản hóa - những bước tiến và những bước ngoặt có ý nghĩa, những trường phái, trào lưu và tranh luận trong sự chuyển động chung này; những tác giả có một vài trò chủ yếu hay có ý nghĩa được nêu bật;

- Tiếp đấy là một từ điển tác giả: một trăm bốn mươi lăm tác giả được nghiên cứu; cho mỗi tác giả lần lượt được trình bày đôi nết về tiểu sử, một thư mục những công trình chính được công bố, một phần phân tích những đóng góp của tác giả vào tư tưởng kinh tế và cuối cùng là những công trình có chọn lọc được viết về tác giả;

- Cuối cùng, sau một thư mục tổng quát, là một bảng tra cứu cho phép tìm nhanh tất cả các tác giả được nêu tên (những tác giả trong từ điển và cả những tác giả không có mặt trong từ điển nhưng được nêu trong phần trình bày lịch sử cúng như những tác giả của những sách và bài viết được trích dẫn).

Mục lục:

Lời giới thiệu

Lời tựa (cho ấn bản tiếng Việt)

Lời nói đầu (cho án bản rút gọn)

Lời người dịch

Trình bày sơ lược

Phần I. Phác thảo một lịch sử tư tưởng kinh tế kể từ lí thuyết tổng quát của Keynes

Dẫn nhập

1. Keynes và lí thuyết tổng quát

2. Cuộc cách mạng keynesian

3. Thắng lợi huy hoàng của chủ nghĩa can thiệp

4. Tiên đề hóa, hình thức hóa, toán học hóa

5. Một số thuyết chính thống mới: Tổng hợp tân cổ điển

6. Tính thường trực và đổi mới của những học thuyết phi chính thống

7. Sự trỗi dậy của học thuyết tự do

8. Những kinh tế học vĩ mô mới

9. Về tháp Babel và ba cách tiếp cận của tư tưởng kinh tế đương đại

Lời bạt (cho ấn bản tiếng Việt)

Phần II. Từ điển những nhà kinh tế đương đại chính


From TuanVietnam

Đọc lại Keynes giữa buổi "đầy ắp âm thanh và cuồng nộ"
16/12/2008 07:57 (GMT + 7)
Michel Beaud và Gilles Dostaler chọn năm 1936, năm xuất bản tác phẩm chính của Keynes - Lí thuyết tổng quát về việc làm, tiền lãi và tiền tệ làm khởi điểm cho một phác họa toàn cảnh diễn tiến sôi động của tư tưởng kinh tế đến cuối thể kỉ qua, một lịch sử "đầy ắp âm thanh và cuồng nộ".

Tên sách: TƯ TƯỞNG KINH TẾ KỂ TỪ KEYNES
Tác giả: Michael Beaud & Gilles Dostaller
Dịch giả: Nguyễn Đôn Phước
Phát hành: NXB Tri thức & Phương Nam Books
(Tủ sách Dẫn nhập - NXB Tri thức)
Xin trích dẫn những dòng cuối của tác phẩm nổi tiếng của Keynes:

"Tư tưởng của các nhà kinh tế học và các triết gia chính trị học còn có thế lực mạnh hơn là người ta tưởng kể cả khi tư tưởng đó đúng hay sai ... Những người có đầu óc thực tiễn cho rằng họ hoàn toàn không bị chi phối bởi bất kì ảnh hưởng của học thuyết nào lại thường là nô lệ của một nhà kinh tế học nào đã chết. Những kẻ điên rồ nắm quyền lực trong tay tưởng như nghe thấy tiếng nói trong không trung, nhưng lại đang chắt lọc cuồng mộng của họ từ một cây bút tầm thường nào đó mấy năm về trước.

Tôi chắc rằng tầm quan trọng của những lợi ích cục bộ được thổi phồng lên nhiều so với ảnh hưởng mở rộng dần dần của những tư tưởng này ... Sớm hay muộn, chính những tư tưởng, chứ không phải những lợi ích cục bộ, mới là điều nguy hại đối với điều tốt hay điều xấu".

Cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế đang diễn ra càng làm nổi bật tính thời sự của nhận định trên về tầm quan trọng của tư tưởng kinh tế, như được minh chứng qua cuộc đối thoại sau.

Ngày 23/10 vừa qua, điều trần trước quốc hội Mĩ, ông Greenspan, khi được nhắc lại niềm tin của ông trước đây vào hệ thống "free market" mà theo lời ông thì "những thị trường tự do và cạnh tranh là cách tốt nhất, và không có gì bằng, để tổ chức các nền kinh tế", đã thừa nhận rằng ông đã "tìm thấy một sai lầm, một vết rạn nứt, không rõ có ý nghĩa như thế nào và mang tính thường xuyên hay không, khiến tôi vô cùng đau khổ".

Bị vị chủ tịch ủy ban giám sát hoạt động chính phủ hối thúc ông nói rõ thêm ý ông khi hỏi thẳng: "Nói cách khác, phải chăng ông thấy rằng thế giới quan, hệ tư tưởng của ông là không đúng, không khả thi", Greenspan xác nhận ngay: "Đúng vậy, chính xác là như thế. Đó là lí do khiến tôi bị sốc vì trong suốt 40 năm hay lâu hơn thế nữa, một cách vô cùng hiển nhiên hệ thống đã hoạt động đặc biệt tốt".

Sự kiện người cầm chịch chính sách tiền tệ Mĩ trong gần hai mươi năm liên tục mà mỗi một tuyên bố khiến thị trường phải chờ đón từng lời, hai năm trước mới rời khỏi chức vụ trong hào quang của một bậc thầy (maestro), nay buộc phải nhận một phần trách nhiệm để nổ ra cuộc khủng hoảng chưa biết sẽ đưa thế giới về đâu, đủ biện minh cho việc cần phải quan tâm đến tư tưởng kinh tế.

Cũng trong lần phát biểu trên trước quốc hội Mĩ, Greenspan còn thừa nhận là sự thất bại trong việc xác định đúng đắn giá những tài sản có rủi ro cao đã đẩy nhanh cuộc khủng hoảng và nhắc đến các công trình của cái gọi là giải Nobel kinh tế năm 1990 làm cơ sở hỗ trợ cho những tiến bộ của thị trường các chứng khoán phái sinh, dựa trên công nghệ tin học và viễn thông, với sự góp sức của các chuyên gia toán học và tài chính.
Ông cũng nhận định rằng thiết kế lí thuyết này, từng có ảnh hưởng lớn đến việc quản lí rủi ro suốt nhiều thập niên đã sụp đổ vào mùa hè năm qua, nhưng vẫn cho rằng nếu các mô hình được nạp thêm dữ liệu về những thời kì lịch sử khác thì bộ mặt của thị trường tài chính sẽ không thê thảm như hôm nay.

Trong Tư tưởng kinh tế kể từ Keynes, Beaud và Dostaler dành nguyên một chương cho sự hình thành xu hướng tiên đề hóa, hình thức hoá và toán học hoá, được xem như một "đột biến triệt để" mà tầm quan trọng, trong một thời gian dài, bị cuộc "cách mạng keynesian" che khuất.

Trước những biện pháp đối phó khẩn cấp của các chính quyền phương Tây, một sinh viên chỉ còn nhớ tư tưởng kinh tế qua danh tiếng của những nhà lí thuyết nối tiếp nhau trong thời gian có thể cho rằng giờ Keynes phục thù Hayek đã điểm!

Hay một nhà báo theo dõi thời sự kinh tế có thể cho là cuộc khủng hoảng đang tiếp diễn khép lại mấy thập niên thống trị của học thuyết "tân tự do" và từ nay sẽ là sự hồi sinh của các chính sách tùy nghi theo kiểu keynesian và của những biện pháp quy định hoá.

Nhưng ai có đọc Tư tưởng kinh tế kể từ Keynes thì sẽ không vội vàng tiếp nhận kiểu kết luận như thế. Vì bao giờ cũng có một khoảng cách giữa tư tưởng của lí thuyết gia và những chính sách được thực thi nhân danh (hay núp bóng hoặc đội lốt) tư tưởng này. Phải chăng vì thế mà tương truyền rằng Keynes từng thốt lên: "Tôi không phải là một nhà keynesian", cũng như Marx trước đây có nói ông không phải là nhà marxist?

Và nếu trong lịch sử, sự phân cực các học thuyết khác nhau diễn ra trên trục Nhà nước-thị trường thì hai tác giả cũng đã cho thấy là dù cho ở mỗi thời điểm, bao giờ cũng có sự thống trị của một học thuyết "chính thống" nhưng nhiều học thuyết "phi chính thống" khác vẫn không chịu khuất phục. Bối cảnh hình thành, tính phức tạp, đối lập lẫn đan xen, chuyển hoá lẫn nhau, thậm chí hội tụ trên một số điểm nhất định, giữa các trào lưu khiến cho họa đồ tư tưởng kinh tế đương đại không chỉ đậm một gam màu duy nhất.

Điều này càng hiện rõ khi bắt đầu xuất hiện những cách lí giải và đề xuất hướng thoát khỏi cuộc khủng hoảng hiện nay theo quan điểm của trường phái Áo (ABCT), theo cách nhìn hậu keynesian kiểu Minsky, theo quan điểm thể chế, theo quan điểm marxist, hoặc vận dụng những khái niệm như tính bất toàn của thông tin, thông tin không đối xứng, hoặc lấy cảm hứng từ kinh tế học hành vi...vv...

Đối với nhà nghiên cứu muốn theo dõi các cuộc tranh luận lí thuyết đang khởi động chung quanh cuộc khủng hoảng hiện nay, quyển Tư tưởng kinh tế kể từ Keynes cung cấp những thông tin ban đầu về các vấn đề không thuộc chuyên ngành hẹp của mình. Để viết tác phẩm này, Beaud và Dostaler tuân thủ các nguyên tắc sau: "Từ chối đánh giá nội dung có trước mắt theo thước đo của bất kì học thuyết chính thống nào", "kết hợp lịch sử tư duy và lịch sử tư tưởng" và vận dụng "phương pháp tái tạo lịch sử", tức là "trình bày tư tưởng của các tác giả bằng chính những khái niệm do chính các tác giả này sử dụng và theo những cách trình bày mà họ có thể chấp nhận".
Tác phẩm còn có phần từ điển điểm qua tiểu sử, sự nghiệp, những đóng góp và luận điểm của 150 nhà kinh tế đương đại chính tiêu biểu cho các trào lưu khác nhau trong số hơn 1.000 nhà kinh tế được nêu tên và/hoặc trích dẫn trong phần phác thảo lịch sử. Thư mục chung cùng với những thư mục chi tiết về các tác giả có mặt trong từ điển, và một bảng tra cứu theo chủ đề biến quyển sách thành một công cụ làm việc đắc lực, tập hợp nhiều nguồn tham khảo cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn.

Về mặt học thuật trên đây là vài nét chính tôi thu hoạch được khi đọc Tư tưởng kinh tế kể từ Keynes, với mong muốn chia sẻ cùng các bạn rằng kinh tế học không hẳn đã là một "khoa học buồn thảm" (dismal science).

Nhưng tôi sẽ sai lầm nếu gieo cho các bạn cảm giác rằng đây là một quyển sách hàn lâm do hai giáo sư đại học ngồi viết trong tháp ngà. Với tư cách nhà khoa học, các tác giả đã viết tác phẩm một cách khách quan, trung thực dựa trên một quan điểm rõ ràng như vừa được nêu, thoả mãn đầy đủ những chuẩn mực học thuật nên được các đồng nghiệp đánh giá cao, dù có đồng ý với họ hay không.

Vì đứng trước sự phong phú của tư tưởng đương đại, hai đồng tác giả giữ thái độ không giáo điều khi viết rằng: "Nhận xét có sự bùng nổ [...] của tri thức kinh tế trước hết phải dẫn đến việc ghi nhận tính đa dạng, chấp nhận sự đa nguyên này nhưng cũng là để mọi người cùng chấp nhận nó".

Nhưng thấm nhuần tinh thần nhân văn của thế kỉ Ánh sáng, như câu họ trích dẫn nhà văn Rabelais cho thấy: "Khoa học mà không có lương tâm chỉ là điêu tàn của tâm hồn", nên với tư cách nhà kinh tế đồng thời cũng là công dân toàn cầu, họ không ngần ngại lên tiếng khi nhận thức rằng trái đất không phẳng.

Trong lời tựa cho bản in tiếng Việt, sau khi nhắc lại đánh giá của Keynes trong chương 12 nổi tiếng của Lí thuyết tổng quát, rằng đầu cơ là vô hại khi các nhà đầu cơ là những "bọt bong bóng trong dòng hoạt động kinh doanh ổn định" thì tình hình trở nên nguy kịch khi "hoạt động kinh doanh chỉ còn là một bọt bong bóng trong cơn lốc đầu cơ", và như thế sự phát triển của tư bản trở thành "một thứ phẩm của các hoạt động trong sòng bạc", Gilles Dostaler viết tiếp :

"Nhận định trên của Keynes có tính tiên tri và đáng kinh ngạc khi ta xét đến sự phát triển trong hai mươi năm vừa qua, với việc nhân bội các cuộc khủng hoảng tài chính, mà cuộc khủng hoảng mới nhất vào lúc những dòng này được viết ra (tháng giêng 2008), gây nên bởi đầu cơ bất động sản quá đáng ở Hoa Kì, bắt đầu được mở rộng và đe dọa nền kinh tế thế giới.

Sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods, mà Keynes đã góp phần dựng lên, việc phi quy định hoá tài chính, việc hủy bỏ mọi cản trở cho sự lưu thông vốn trên bình diện quốc tế, tất cả các hiện tượng liên kết với nhau này và gắn với điều được gọi là toàn cầu hoá làm cho những xu hướng nguy hiểm cho sự tồn vong của nhân loại thêm đậm nét.

Từ nay, hơn bao giờ hết, chủ nghĩa tư bản là một hệ thống thế giới bị các quyền lực tài chính thống trị, những quyền lực mà thước đo duy nhất là đồng tiền và mục đích duy nhất là khả năng sinh lợi tài chính. Trách nhiệm của những nhà kinh tế (trên cương vị công dân) là phải góp phần đảo ngược xu hướng này".

Còn trong lời bạt, Michel Beaud nhất trí là "chúng ta đang ở trong một cuộc đột biến toàn cầu không có tiền lệ trong lịch sử [...] và bị cuốn vào một quá trình tiến hoá mạnh mẽ và nguy hiểm đe dọa tương lai của các xã hội loài người, chủ nghĩa nhân văn và hành tinh". Thế mà, ông thất vọng ghi nhận rằng: "đứng trước thách thức này, phần chủ yếu của các công trình trong kinh tế học không được lồng vào một nỗ lực tập thể nhằm góp phần chẩn đoán và đề xuất những liệu pháp".

Một phần vì, như Gilles Dostaler đã nhấn mạnh trong lời tựa, "một phần lớn lí thuyết kinh tế hiện nay giống như toán học ứng dụng hơn là suy tư về hiện thực con người và xã hội. Một phần khác vì hiếm có những nhà kinh tế mà động cơ các công trình của họ là một động cơ đạo đức, chính trị, hay đơn giản hơn là vì con người".

Bởi thế, sau khi "nhắc lại rằng trong hơn hai thế kỉ, hầu hết những công trình kinh tế học chính trị đều không bỏ qua chiều kích đạo đức, lẫn lịch sử và các bộ môn khác bàn về con người và xã hội", Michel Beaud kêu gọi các nhà kinh tế noi gương hai bậc tiền bối ở Cambridge là Marshall và Keynes để "khi tính đến sự phân mảnh của tri thức, học cách tư duy tính phức hợp trong sự cộng tác với các chuyên gia của tất cả các bộ môn liên quan đến đối tượng nghiên cứu, ...xem Trái đất trong tổng thể của nó và trong sự đa dạng của những hệ sinh thái và xem Nhân loại trong tính thống nhất của nó và trong sự đa dạng của các xã hội con người và do đó tìm kiếm những giải pháp" cho điều ông gọi là "cuộc xung đột các quá trình tái sản xuất", "vừa với mối quan tâm đến tính tổng thể vừa nghĩ đến tính đa dạng của các lộ trình".

Và ông mong chờ "các xã hội mới nổi lên, những xã hội năng động nhất và sáng tạo nhất của giai đoạn hiện nay, không chỉ phải tìm cách đuổi kịp mà còn phải đi trước bằng cách sáng tạo không phải chỉ công nghệ và năng lượng mà còn cả những nền nông nghiệp, những phương thức qui hoạch đô thị, những phương tiện giao thông vận tải không gây nguy hại cho Trái đất và sự Sống".

Xin được kết thúc với những trích dẫn tâm huyết trên của hai đồng tác giả, và nếu phải gói gọn trong một câu tôi sẽ nói rằng quyển Tư tưởng kinh tế kể từ Keynes là một sản phẩm trí thức ra đời trong những đất nước có xã hội dân sự phát triển.

Dịch giả Nguyễn Đôn Phước

=> tác phẩm mang phong cách hàn lâm nhưng rất chăm chút, thuận tiện cho việc nghiên cứu các học thuyết kinh tế. Là tài liệu tham khảo có giá trị.
Sách khá dày nhưng phần nội dung chính chỉ có 287 trang, phần còn lại là từ điển các nhà kinh tế đương đại chính.
Bản gốc của tác phẩm là tiếng Pháp và sách dịch cũng được dịch từ cuốn gốc này.

Free download english version.

Saturday, January 31, 2009

Nguồn Gốc Khủng Hoảng Tài Chính - Origin of financial crises (George Cooper)



Nguồn Gốc Khủng Hoảng Tài Chính
Tác giả: George Cooper. - Dịch giả: Minh Khôi. Thuỷ Nguyệt.
Nhà xuất bản: Nxb Lao động Xã hội
Số trang: 240
Hình thức bìa: Bìa mềm
Kích thước: 13 x 20.5 cm
Ngày xuất bản: 12 - 2008
Trọng lượng: 260 gram
Giá bìa: 55.000 VNĐ

Giới thiệu về nội dung

Cuốn sách này được viết ra như một câu trả lời cho cuộc khủng hoảng tín dụng hiện nay nhằm lý giải nguyên nhân tại sao nền kinh tế toàn cầu nói chung và nền kinh tế Mỹ nói riêng lại bị mắt kẹt trong đám bong bóng giá tài sản tưởng chừng như vô tận do các cuộc khủng hoảng tín dụng gây ra. Cuốn sách miêu tả quá trình tạo nên những vòng quay luẩn quẩn này và sau đó, chỉ ra lý do đằng sau những sai lầm trong chính sách đã làm trầm trọng thêm những chu kỳ ấy.

Cuốn sách sẽ đưa ra những thảo luận sâu sắc hơn về cách chúng ta nên đổi mới các chính sách kinh tế vĩ mô và giúp đa số độc giả hiểu về tính bất ổn tài chính và ngân hàng trung ương. Nếu chúng ta có ý định phá vỡ các chu kỳ bùng vỡ (booms and busts) nguy hại, mọi chủ thể tham gia nền kinh tế cần nhận thức được chính xác vai trò và những giới hạn của các chính sách kinh tế vĩ mô. Các chính trị gia và người dân cần nhận thức rõ ràng việc áp dụng các chính sách tiền tệ và tài khoá để ngăn chặn ngay lập tức những suy thoái kinh tế là điều không thể. Các ngân hàng trung ương nên quay trở lại với mục đích chính của mình là quản lý quá trình tạo tín dụng và cần phải học cách chung sống với những sức ép từ phía các chính trị gia cũng như từ khu vực kinh tế tư nhân đòi mở rộng việc bơm tín dụng không ngừng vào nền kinh tế.

Trọng tâm của cuốn sách này nằm ở lý luận rằng hệ thống tài chính của chúng ta không vận hành theo các quy luật của Thuyết thị trường Hiệu quả, như nhận thức phổ biếtn về kinh tế hiện nay. Quan điểm của tác giả là hệ thống tài chính của chúng ta vốn bất ổn, không hề có trạng thái cân bằng ổn định và thường thiên về hướng tạo nên những chu kỳ bùng vỡ nguy hại. Tác giả cho rằng tình trạng không ổn định này đỏi hỏi các ngân hàng trung ương phải quản lý quá trình tạo tín dụng. Tuy nhiên, tác giả cũng lý giải việc các chính sách của ngân hàng trung ương theo thời gian đã trượt từ mục tiêu bình ổn các hoạt động kinh tế sang thái cực ngược lại, khuyếch đại các chu kỳ bùng – vỡ, làm bất ổn thêm nền kinh tế của chúng ta.

=> Sách viết hay, giải thích nhiều vấn đề về tiền tệ, lạm phát, Ngân hàng trung ương và chính sách điều hành với cách diễn đạt khá dễ hiểu, có tính chất so sánh từng luận điểm để tiện theo dõi vấn đề. Sách cũng giải thích nhiều từ chuyên ngành một cách khá rõ ràng và dễ hình dung. Cấu trúc chặt chẽ và có tính cập nhật. Dẫn chứng, lý giải rõ ràng. Ít lỗi chính tả đánh máy.

Trong cuốn này có 1 câu, thấy rất có lý:
"TRONG THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH, SỰ TRUNG THÀNH THƯỜNG KHÔNG ĐƯỢC ĐỀN ĐÁP"

Tóm tắt nội dung:

Lời cảm ơn

Lời nói đầu

1. Giới thiệu
- Chính sách cân bằng, thuyết Thị trường hiệu quả.

2. Các thị trường hiệu quả và các ngân hàng trung ương
- Ngân hàng trung ương: nên tồn tại hay không nên tồn tại?
- Các trường phái điều hành chính sách (nhà thương điên)

3. Tiền, ngân hàng và ngân hàng trung ương
- Tiền, quá trình tạo tín dụng và con Quái Vật Lạm Phát
- Ngân hàng trung ương: người cho vay cuối cùng và rủi ro đạo đức (moral hazard)
- Lạm phát và thuế; chính sách của Keynes

4. Các thị trường ổn định và không ổn định
- Sự khác nhau cơ bản của thị trường hàng hoá và thị trường tài sản là cách thị trường đối phó với giá cả chuyển dịch hay cầu chuyển dịch.

5. Những lập luận mập mờ
- Nhà đầu tư lý trí và thuyết Thị trường hiệu quả
- Biến số: ảo ảnh dữ liệu và tăng trưởng tín dụng

6. Các thống đốc (ngân hàng trung ương)
- Eurofighter Typhoon (khái niệm mới được đề cập trong sách này) và nền kinh tế lắc
- Hình thức điều khiển của Ngân hàng trung ương và những cú sốc.
- Triển vọng của hệ thống điều khiển.

7. Minsky gặp gỡ Mandelbrot
- Ẩn số được biết và ẩn số chưa được biết (hay còn gọi là "rủi ro Knightian")
- Quản lý rủi ro dựa vào thuyết thị trường hiệu quả giống như ấm trà Socola
- Rủi ro của việc đo lường và hệ thống quản lý rủi ro định lượng.

8. Đối mặt với ảo tưởng về thị trường hiệu quả
- Sự chọn lọc và cần thiết có học thuyết mới
- Những lựa chọn trong ngắn hạn:
+ Thị trường tự do
+ Khuyến khích mua sắm
+ Lạm phát

9. Các kết luận

Về kết luận thì tác giả có vẻ nghiên về trường phát quản lý cung tiền để quản lý tăng trưởng tín dụng của ECB, đồng thời tác giả cũng chỉ trích FED về cách điều hành. (W.)

Update 31Jul2009: download link here (english)

Saturday, December 20, 2008

Chương trình xem ebooks

Microsoft Reader : xem các ebooks định dạng *.lit (download)
LizardTech : xem các ebooks định dạng *.djvu (download)
Mobipocket Reader : xem các ebooks định dạng *.prc (download)

Doc sach nhu mot nghe thuat - How to read a book



Tác giả: Mortimer J.Adler. - Dịch giả: Hải Nhi.
Nhà xuất bản: Nxb Lao động Xã hội

Đọc sách như một nghệ thuật, ngay từ lần xuất bản đầu tiên năm 1940, đã được đánh giá là cuốn sách hướng dẫn đọc hiểu lý thú và hiệu quả nhất dành cho độc giả phổ thông. Cuốn sách đã nhanh chóng trở thành một tác phẩm kinh điển về cách đọc sách thông minh.

Đọc sách như một nghệ thuật giúp bạn khám phá và lĩnh hội các cấp độ đọc khác nhau, từ đọc sơ cấp, đọc lướt có hệ thống đến đọc kiểm soát và đọc siêu tốc. Bạn có thể áp dụng các cấp độ này cho việc phân loại, chụp X-quang hay phê bình sách, tuỳ theo nhu cầu và mục đích của mình. Nhờ các kỹ năng đọc được hệ thống ở đây, bạn sẽ biết cách tiếp cận và nắm bắt tất cả các loại văn bản, dù đó là sách thực hành, khoa học, toán học, triết học, lịch sử hay các tác phẩm văn học.

Đọc sách như một nghệ thuật, hơn hết, thúc đẩy ta trở thành độc giả say mê. Cuốn sách là người bạn đường không thể thiếu của mỗi người trên hành trình đối thoại để học hỏi, khám phá, tu thân và trưởng thành, như Decartes đã nói: "Đọc sách là được trò chuyện với những người thành đạt nhất của các thế kỷ đã qua".

Mục lục:

Lời nói đầu

Phần 1: Các phương diện đọc sách

Đọc sách và nghệ thuật đọc sách

Các cấp độ đọc

Cấp độ đọc đầu tiên - Đọc sơ cấp

Cấp độ thứ hai - Đọc kiểm soát

Cách trở thành một độc giả yêu cầu cao

Phần 2: cấp độ đọc thứ ba - Đọc phân tích

Phân loại một cuốn sách

"Chụp X-quang" một cuốn sách

Thống nhất các thuật ngữ với tác giả

Xác định thông điệp của tác giả

Đưa ra những lời phê bình hợp lý

Đồng ý hay bất đồng với tác giả

Những phương tiện giúp việc đọc

Phần 3: Tiếp cận những chủ đề sách khác nhau

Cách đọc sách thực hành

Cách đọc tác phẩm văn học giả tưởng

Những gợi ý khi đọc truyện, kịch và thơ

Các đọc sách lịch sử

Cách đọc sách khoa học và sách toán

Cách đọc sách triết học

Cách đọc sách khoa học xã hội

Phần 4: Mục đích cao nhất của việc đọc sách

Cấp độ đọc thứ tư Đọc đồng chủ đề

Đọc sách và sự phát triển trí tuệ.

=> Cuốn này đọc cũng được, nội dung gần với cuốn "Phương pháp ghi nhận". Cũng tham khảo được nhiều ý hiihi..

free download (bản tiếng việt, định dạng prc)

Sử dụng Mobipocket reader để xem file prc. Download Mobipocket reader

Sunday, November 23, 2008

Những Đỉnh Cao Chỉ Huy - Cuộc Chiến Vì Nền Kinh Tế Thế Giới (THe commanding heights - The battle for the world economy) - Daniel A. Yergin




Tác Giả: Joseph Stanislaw - Daniel Yergin
Nhà Xuất Bản: NXB Tri Thức
Số Trang: 832
Giá Bìa: 110,000VNĐ
(discount 30% tại các quầy sách KimDung, Sach4u trên đường Trần Huy Liệu, HCM hoặc Sách Hà Nội trên Minh Khai)

Những Đỉnh Cao Chỉ Huy thể hiện một cách thuyết phục và đầy ấn tượng về những thách thức chủ yếu của thời đại ngày nay và tương lai đối với các chính sách của chính phủ và hoạt động của các công ty.
(Trường Đại Học Harvard).

Thực ra, câu chuyện thất bại nhà nước và thất bại thị trường hay mối quan hệ nhà nước - thị trường không phải chủ đề nghiên cứu mới hay của riêng công trình do UNDP thực hiện. Nó chỉ góp thêm một tiếng nói, rất thiết thực và bổ ích, trực tiếp cho người Việt Nam lúc đó mới chập chững bước vào kinh tế thị trường - một thị ttrường mới mở cửa ( mới được mươi năm kể từ khi đổi mới), nhằm làm sáng tỏ thêm một vấn đề có thể coi là xưa cũ, một vấn đề đã từng đeo đẳng, giày vò loài người nhiều thế kỷ mãi cho tới tận ngày hôm nay.

Những Đỉnh Cao Chỉ Huy cũng là một công trình được viết trong nỗi ám ảnh của sự giày vò đó. Nó cũng bàn về vấn đề nhà nước - thị trường. Như hàng ngàn cuốn sách khác, nó bàn về một trong những vấn đề lớn nhất, phức tạp nhất, gây nhiều phiền hà nhất, do đó, cũng là thú vị nhất của lịch sử phát triển nhân loại.
Cuốn sách có nhiệm vụ trả lời những câu hỏi lớn của lịch sử hiện đại: Tại sao phải chuyển sang cơ chế thị trường ? Tại sao và như thế nào mà sự chuyển đổi từ kỷ nguyên, trong đó, chính phủ các quốc gia luôn tìm cách nắm giữ và kiểm soát nền kinh tế nhà nước sang kỷ nguyên với những ý tưởng về cạnh tranh, mở cửa, tư nhân hoá và bãi bỏ các phép tắc đã và đang thống trị tư tưởng kinh tế thế giới? Liệu những thay đổi này có phải là không thể đảo ngược? Chúng có phải là một phần của quá trình phát triển và tiến hoá liên tục? Hơn thế nữa kết quả và viễn cảnh chính trị, xã hội, kinh tế của sự thay đổi căn bản này trong mối quan hệ giữa chính phủ và thị trường là gì?
Đối diện với loài người là một thế giới ngày càng toàn cầu hoá. Trong thế giới đó, không gian thu hẹp lại, thời gian được rút ngắn lại, các rào biên giới hạ thấp, và thế giới trở thành một ngôi làng. Khi đó, nền kinh tế thị trường vận hành với nhêìu quy tắc mới. Toàn cầu hoá, như các tác giả viết, là một thách thức đối với nhà nước. Vì vậy mà vai trò và chức năng của nhà nước chắc chắn cũng sẽ có những thay đổi mạnh mẽ. Quyền lực nhà nước bị giới hạn trong phạm vi quốc gia có thể sẽ xung đột với quá trình toàn cầu hoá các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Khí đó, câu hỏi đặt ra sẽ là những đỉnh cao chỉ huy mà các nhà nứơc - quốc gia luôn muốn chiếm lấy để khống chế nền kinh tế thị trường liệu có những giá trị nào? Nhà nước sẽ tham gia vào quá trình phát triển mang tính toàn cầu với những công cụ và phương cách nào?

Những khó khăn mà chúng ta đang gặp phải trong quá trình cải cách hành chính, hay rộng hơn, cải cách nhà nứơc và hệ thống chính trị, cho thấy rõ mức độ phức tạp của việc trả lời các câu hỏi mà đất nước đang bắt buộc phải trả lời đó.
Trong lộ trình đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi đó, có thể tin rằng cuốn sách này là một người bạn tốt.


(Theo Vinabook)



Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN mà Việt Nam đang theo đuổi đã, đang và sẽ là một trong những vấn đề trọng tâm, gây ra những tranh cãi và thảo luận không dứt. Thuật ngữ “những đỉnh cao chỉ huy” vốn được Lenin dùng để ám chỉ những ngành kinh tế trọng yếu của đất nước, những ngành có thể kiểm soát được hiệu quả và hỗ trợ cho những ngành khác; tức là những ngành mà Nhà nước cần nắm chắc trong tay khi xây dựng kinh tế thị trường. Vấn đề đặt ra luôn là: Nhà nước cần nắm giữ những “đỉnh cao chỉ huy “ nào, đâu là vai trò và trách nhiệm của Nhà nước và thị trường (ai là người chịu lỗi lớn nhất) trong những thất bại của nền kinh tế đã từng xảy ra trong thế kỷ XX trên khắp thế giới?

Bằng hàng loạt khảo sát trên nhiều trường hợp đa dạng, trải chiều dài lịch sử thế kỷ XX, các tác giả đã góp thêm nhiều kiến giải cho những vấn đề nêu trên. Đây là một cuốn sách dày nhưng không hề khô khan, trái lại rất cần thiết cho độc giả Việt Nam – quốc gia mới chập chững trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Những bài học về quan hệ Nhà nước – Thị trường trình bày trong cuốn sách có thể là những thông tin và kinh nghiệm bổ ích cho các nhà hoạch định chính sách công, các nhà kinh tế và tất cả những ai quan tâm đến hiện tình kinh tế của nước ta.

(Theo Sach Hay)



Командные высоты (tiếng Việt dịch là Những đỉnh cao chỉ huy) là tựa đề một bài diễn văn của V. I. Lenin. Lenin sử dụng khái niệm này trong báo cáo đọc tại Đại hội lần thứ 4 của Quốc tế Cộng sản để nói về những ngành kinh tế có thể kiểm soát được hiệu quả và hỗ trợ cho các ngành khác. Thực ra đây là một thuật ngữ quân sự chỉ những điểm cao quan trọng mang tính chi phối chiến trường, gọi là cao điểm chiến lược.

Lenin nói: “Chúng tôi buộc phải đi đường vòng. Chủ nghĩa tư bản nhà nước như chúng tôi đã thiết lập trong nước là một chủ nghĩa tư bản nhà nước đặc biệt. Nó khác với khái niệm thông thường về chủ nghĩa tư bản nhà nước. Chúng tôi nắm tất cả những đỉnh cao chỉ huy”.

Phải chăng chủ nghĩa tư bản nhà nước đặc biệt này chính là xuất xứ của khái niệm kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng được Lenin gọi thẳng là chủ nghĩa tư bản nhà nước? Chỉ tiếc là sau đó Lenin mất nên không rõ lý thuyết và thực tiễn cụ thể của chủ nghĩa tư bản nhà nước đặc biệt này như thế nào, có hoạt động được không?

Năm 1998, Daniel Yergin và Joseph Stanislaw đã dùng thuật ngữ Những đỉnh cao chỉ huy làm tiêu đề cho cuốn sách của mình: Commanding Heights: The Battle for the World Economy, mà các bạn đang có bản tiếng Việt trong tay.

LỜI GIỚI THIỆU

Cách đây 8 năm (năm 1998), công trình nghiên cứu Từ thần kỳ tới khủng hoảng - những bài học có ích cho Việt Nam của Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Hà Nội về cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Đông Á 1997-1998 đã đưa ra một khuyến cáo gây sự chú ý đặc biệt. Đó là khuyến cáo về “thất bại nhà nước” trong việc điều hành nền kinh tế thị trường, được UNDP coi là nguyên nhân chính gây ra sự sụp đổ của hàng loạt nền kinh tế “thần kỳ” ở Đông Á. Đối với nhiều người trong giới nghiên cứu và hoạch định chính sách ở Việt Nam lúc đó, lời cảnh báo này có phần gây “sốc”. Đơn giản vì nó đưa ra một luận điểm khá mới mẻ so với nhận thức phổ biến trong xã hội, mang tính chuẩn mực giáo khoa nhưng lại khá thiên lệch, quy mọi thứ bất ổn xảy ra trong nền kinh tế thị trường cho cái gọi là “thất bại thị trường”. Công trình nghiên cứu này cho rằng “thất bại nhà nước” vẫn thường xảy ra và gây tai hoạ to lớn không kém “thất bại thị trường”.

Thực ra, câu chuyện “thất bại nhà nước” và “thất bại thị trường” hay mối quan hệ “nhà nước” - “thị trường” không phải chủ đề nghiên cứu mới hay của riêng công trình do UNDP thực hiện. Nó chỉ góp thêm một tiếng nói, rất thiết thực và bổ ích, trực tiếp cho người Việt Nam lúc đó mới “chập chững” bước vào kinh tế thị trường - một thị trường mới mở cửa (mới được mươi năm kể từ khi đổi mới), nhằm làm sáng tỏ thêm một vấn đề có thể coi là “xưa cũ”, một vấn đề đã từng đeo đẳng, giày vò loài người nhiều thế kỷ mãi cho tới tận ngày hôm nay.

Cuốn sách mà các bạn đang cầm trên tay cũng là một công trình được viết trong nỗi ám ảnh của sự giày vò đó. Nó cũng bàn về vấn đề “nhà nước - thị trường”. Như hàng ngàn cuốn sách khác, nó bàn về một trong những vấn đề lớn nhất, phức tạp nhất, gây nhiều “phiền hà” nhất, do đó, cũng là thú vị nhất của lịch sử phát triển nhân loại.

Nhưng dù là bàn về một chủ đề “xưa cũ”, đây vẫn là một cuốn sách đáng đọc đáng đọc vì giá trị xuyên suốt lịch sử vấn đề, vì sự mổ xẻ kỹ càng bản chất vấn đề từ các chiều cạnh khác nhau của nó đáng đọc vì tính mục đích và tính định hướng tương lai của cuốn sách. Tựa đề cuốn sách: Những đỉnh cao chỉ huy - Cuộc chiến vì nền kinh tế thế giới - đã bao hàm những giá trị đó. Đọc một cuốn sách có độ dày hơn 800 trang, trong thời đại mà “văn hoá nghe nhìn” đang lấn lướt “văn hoá đọc hiểu”, lại về một chủ đề không mới, quả thật là mạo hiểm. Nhưng khi đã cầm cuốn sách và đọc nó, mọi người sẽ thấy ngay từ trang đầu tiên rằng đó là một sự mạo hiểm đáng giá. Hơn 800 trang là độ dày cần thiết và có thể chấp nhận. Đọc từ trang đầu tiên đến trang cuối cùng của cuốn sách, điều ta cảm nhận được sẽ là một bức tranh toàn cảnh đủ chân thực, rất phong phú và sinh động về lịch sử phát triển của loài người trong suốt thế kỷ XX, một thế kỷ biến động nhất của lịch sử, được dựng lên xuyên qua một cái trục quan trọng bậc nhất của nó là trục nhà nước - thị trường.

Như chính các tác giả viết, cuốn sách có nhiệm vụ trả lời những câu hỏi lớn của lịch sử hiện đại: “Tại sao phải chuyển sang cơ chế thị trường? Tại sao và như thế nào mà sự chuyển đổi từ kỷ nguyên, trong đó, chính phủ các quốc gia luôn tìm cách nắm giữ và kiểm soát nền kinh tế nhà nước sang kỷ nguyên với những ý tưởng về cạnh tranh, mở cửa, tư nhân hoá và bãi bỏ các phép tắc đã và đang thống trị tư tưởng kinh tế thế giới? Liệu những thay đổi này có phải là không thể đảo ngược? Chúng có phải là một phần của quá trình phát triển và tiến hoá liên tục? Hơn thế nữa kết quả và viễn cảnh chính trị, xã hội, kinh tế của sự thay đổi căn bản này trong mối quan hệ giữa chính phủ và thị trường là gì?”

Giải thích thêm cho việc lựa chọn những câu hỏi đó, cũng là để xác định một cách tiếp cận đến các câu trả lời, các tác giả cho rằng “ranh giới giữa chính phủ và thị trường không thể được phân định dứt khoát bởi một số cuộc hội thảo ôn hòa. Đây là chủ đề của các cuộc chiến lớn nhỏ về trí tuệ và chính trị trong suốt một thế kỷ. Các cuộc chiến nói chung đã tạo nên một trong những vở kịch lớn định hình thế kỷ XX. Ngày nay, mâu thuẫn giữa thị trường và sự kiểm soát của chính phủ đã trở nên sâu rộng đến mức đang làm thay đổi cả thế giới và làm nền cho thế kỷ XXI.”

Theo cách tiếp cận như vậy, cuốn sách chính luận này làm một cuộc khảo sát lại lịch sử tiến triển, cũng là sự thăng trầm, của các “đỉnh cao chỉ huy” trong sự giằng co nhà nước - thị trường, giúp nhận diện rõ hơn thực chất lý luận của quá trình này. Chúng ta sẽ tìm thấy qua các chương của cuốn sách những diện mạo khác nhau của nhà nước và thị trường. Đó là những diện mạo khác nhau trong các giai đoạn phát triển của lịch sử, giữa các hệ thống chính trị - xã hội, giữa các châu lục với các nền văn hoá và truyền thống khác nhau, giữa các trường phái khác nhau. Chân dung lịch sử của nhà nước, cũng như của thị trường, được cuốn sách vẽ lại từ nhiều chiều cạnh, góc độ và trong mối tương quan so sánh.

Cuốn sách đáng trân trọng vì nó cung cấp một cái nhìn khách quan và công bằng về lịch sử, về một đối tượng có tầm quan trọng sống còn của lịch sử, về một mối quan hệ có một số phận rất thăng trầm, dễ bị phán xét một cách phiến diện, thiên lệch, theo kiểu “dậu đổ bìm leo”. Nhà nước và mối quan hệ nhà nước - thị trường trong đa số trường hợp, cho đến nay vẫn thường là “nạn nhân” của sự phán xét như vậy.

Cuốn sách cho người đọc thấy rằng nhờ nắm được “các đỉnh cao chỉ huy”, nhà nước đã từng đóng vai trò rất to lớn trong sự phát triển quốc gia. Vai trò này không chỉ thể hiện ở các nước xã hội chủ nghĩa - kế hoạch hoá tập trung trước đây mà còn đặc biệt rõ ràng trong các nền kinh tế thuộc hệ thống tư bản chủ nghĩa, từ các nước phát triển cao nhất cho đến các nước kém phát triển. Các tác giả đã chứng minh không bác bỏ được rằng thậm chí ngay cả ở những nước tư bản phát triển nhất, tức là nơi có nhiều thị trường nhất, thì nhà nước cũng đã từng - và hiện vẫn đang - đóng vai trò to lớn, không chỉ là vai trò quan trọng mà còn là yếu tố quyết định sự phát triển, trong những giai đoạn lịch sử xác định. Lịch sử các nước Mỹ, Pháp, Đức, Nhật, của các nền kinh tế thần kỳ Đông Á, của Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, và của rất nhiều nước khác đã xác nhận điều đó. Dựng lại lịch sử, cuốn sách làm một việc là giúp người đọc thấy rõ hơn “bàn tay hữu hình”, tức là nhà nước, quan trọng đến nhường nào đối với loài người, cả trong hệ thống XHCN “cũ” lẫn hệ thống TBCN hiện đang tồn tại. Trong sự biện chứng của lịch sử, các chứng cứ thực tiễn được cuốn sách nêu ra khẳng định một điều: bàn tay vô hình của thị trường chỉ thực sự hữu ích một khi nó kết hợp với bàn tay hữu hình của nhà nước nhằm mục tiêu phục vụ sự phát triển của nền kinh tế thị trường.

Vì những công lao to lớn, nhà nước xứng đáng được nhận những bản tụng ca đẹp nhất. Cuốn sách đã đưa ra nhiều luận cứ, nhiều bằng chứng để chứng minh một cách thuyết phục nhận định đó. Người đọc, dù đứng trên lập trường nào, cũng sẽ cảm nhận được sự công bằng lịch sử của phán xét này.

Nhưng xét về bản chất, cuốn sách này được viết ra không phải để ngợi ca nhà nước. Nó không phải là bản tụng ca về nhà nước. Nó mổ xẻ thực tiễn và chứng tỏ rằng bên cạnh những “công lao” to lớn, nhà nước còn phạm không ít sai lầm, gây ra nhiều hậu quả, kể cả những hậu quả làm rung chuyển lịch sử. Sự sụp đổ của hệ thống XHCN thế giới dựa trên nền tảng cơ chế kế hoạch hoá tập trung hay gần đây hơn, cuộc khủng hoảng của các nền kinh tế “thần kỳ” của Đông Á cách đây một thập niên là những ví dụ điển hình minh chứng cho điều đó. Những sai lầm của nhà nước, như cuốn sách chỉ ra, hiện diện trong tất cả các hệ thống kinh tế, ở khắp các châu lục, trong mọi giai đoạn phát triển và có nguồn gốc lý luận từ các quan niệm khác nhau về vai trò của nhà nước và thị trường.

Tất nhiên, kể ra đầy đủ, toàn diện “lỗi lầm” của các loại nhà nước không phải là cách mà các tác giả sử dụng để xoá nhoà các ranh giới, làm mờ đi bản chất của nhà nước. Mục tiêu của cuốn sách là rõ ràng: cần phải chỉ ra thất bại nhà nước mà không bị sự chi phối của các thiên kiến, làm rõ các nguyên nhân lịch sử của chúng để giúp nền kinh tế thị trường vận hành hiệu quả hơn.

Thiết nghĩ cuốn sách đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình. Nhưng cũng cần nói thêm rằng đây là cuốn sách dựng lại chân dung lịch sử để hướng tới tương lai.
Đối diện với loài người là một thế giới ngày càng toàn cầu hoá. Trong thế giới đó, không gian thu hẹp lại, thời gian được rút ngắn lại, các hàng rào biên giới hạ thấp, và thế giới trở thành một “ngôi làng”. Khi đó, nền kinh tế thị trường vận hành với nhiều quy tắc mới. Toàn cầu hoá, như các tác giả viết, là một thách thức đối với nhà nước. Vì vậy mà vai trò và chức năng của nhà nước chắc chắn cũng sẽ có những thay đổi mạnh mẽ. Quyền lực nhà nước bị giới hạn trong phạm vi quốc gia có thể sẽ xung đột với quá trình toàn cầu hoá các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Khi đó, câu hỏi đặt ra sẽ là: “những đỉnh cao chỉ huy” mà các nhà nước - quốc gia luôn muốn chiếm lấy để “khống chế” nền kinh tế thị trường liệu có những giá trị nào? Nhà nước sẽ tham gia vào quá trình phát triển mang tính toàn cầu với những công cụ và phương cách nào?

Đó là những câu hỏi rất lớn đang đặt ra. Cũng là về nhà nước - thị trường, về “những đỉnh cao chỉ huy” nhưng với nội dung rất mới. Cuốn sách tiếp cận đến các câu hỏi này không chỉ để gợi suy. Nó còn là những câu trả lời. Có thể những câu trả lời hãy còn xa mới đầy đủ và đúng đắn. Song tất cả những gì hiện có trong cuốn sách là rất bổ ích, cả từ góc độ nhận thức luận lẫn phương pháp luận.

Đối với Việt Nam chúng ta, một đất nước đã 20 năm đi vào quỹ đạo phát triển kinh tế thị trường và mở cửa theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình này, nhiều “đỉnh cao chỉ huy” đã được Nhà nước bàn giao lại cho Thị trường. Nhờ đó, nền kinh tế đã gặt hái được nhiều thành công ngoạn mục. Nhưng dường như quá trình này vẫn chưa hoàn thành. Khuynh hướng muốn “giành lại”, “ôm chặt” lấy các “đỉnh cao chỉ huy” vẫn còn rất mạnh. Trên thực tế, vẫn đang tồn tại tình trạng “thiếu và thừa” nhà nước. Thiếu ở nơi cần, thừa ở nơi đã đủ. Đó là một nghịch lý phát triển mà chúng ta đang chấp nhận và phải trả giá. Tham nhũng, hiệu quả đầu tư thấp, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh chậm được cải thiện, cải cách thị trường bị phanh hãm, v.v… có nguồn gốc từ nghịch lý này.

Giờ đây, khi quá trình cải cách thị trường vẫn chưa hoàn thành, nền kinh tế nước ta lại bước vào một giai đoạn phát triển mới về chất: hội nhập sâu hơn và toàn diện hơn vào nền kinh tế thế giới. Cơ hội nhiều hơn, lớn hơn. Nhưng rủi ro, thách thức cũng gay gắt và khốc liệt hơn. Số phận của nền kinh tế đang tuỳ thuộc vào chỗ cái nào trong số đó - cơ hội hay thách thức - sẽ trở thành hiện thực sớm hơn.

Chắc chắn trong việc giải quyết vấn đề sinh tử này, Nhà nước sẽ đóng một vai trò lớn chưa từng thấy. Nhưng vai trò đó thực sự là gì? Và bằng cách nào để thực hiện nó đúng đắn?

Những khó khăn mà chúng ta đang gặp phải trong quá trình cải cách hành chính, hay rộng hơn, cải cách nhà nước và hệ thống chính trị, cho thấy rõ mức độ phức tạp của việc trả lời các câu hỏi mà đất nước đang bắt buộc phải trả lời đó.

Trong lộ trình đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi đó, có thể tin rằng cuốn sách này là một người bạn tốt.

Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

Hà Nội, ngày 28 tháng 6 năm 2006

PGS. TS. TRẦN ĐÌNH THIÊN
VIỆN KINH TẾ VIỆT NAM



MỤC LỤC

Mở đầu
TRÊN ĐƯỜNG RANH

1. BA MƯƠI NĂM HUY HOÀNG
Nền kinh tế hỗn hợp ở châu Âu

2. TAI ƯƠNG TỪ SỰ ĐỒ SỘ
Chủ nghĩa tư bản tự điều chỉnh kiểu Mỹ

3. LỜI THỀ ĐỊNH MỆNH
Sự nổi lên của Thế giới thứ ba

4. VỊ THẦY TU MẤT TRÍ
Cuộc Cách mạng Thị trường của nước Anh

5. KHỦNG HOẢNG NIỀM TIN
Cả thế giới chỉ trích

6. HƠN CẢ THẦN KỲ
Sự nổi lên của châu Á

7. MÈO ĐEN, MÈO TRẮNG
Công cuộc cải cách của Trung Quốc

8. SAU CHẾ ĐỘ CẤP PHÉP
Sự thức tỉnh của Ấn Độ

9. TUÂN THEO LUẬT CHƠI
Trò chơi mới ở Mỹ Latin

10. CHIẾC VÉ TỚI KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Hành trình tiếp sau chủ nghĩa cộng sản

11. LỜI CAM KẾT
Châu Âu kiếm tìm một khế ước xã hội mới

12. CUỘC CÁCH MẠNG BỊ TRÌ HOÃN
Thế cân bằng mới của nước Mỹ

13. KỶ NGUYÊN TOÀN CẦU HOÁ
Cuộc chiến vì nền kinh tế thế giới

14. NIỀM TIN TRỞ LẠI
Luật chơi mới

=> sách đọc không mấy thú vị, thuộc thể loại như "Thế giới phẳng". Cả cuốn sách chỉ là kể về công cuộc giành lấy vai trò thống trị của từng quốc gia, trải dài từ các nước châu Âu sang châu Mỹ, châu Á, châu Phi. Chỉ đơn thuần là kể con đường đi lên chứ không làm rõ những "khuất tất" tại sao những con người đó (nhà chỉ huy tại các đỉnh cao) được đề bạt, thăng tiến. Có thể xem đây là cuốn Cuộc đời và sự nghiệp của các nhà lãnh đạo.

Monday, October 27, 2008

Lịch sử bí mật đế quốc Hoa Kỳ ( The Secrect History of American Empire ) - John Perkins


Nhà xuất bản: Chính trị quốc gia - Sự thật
Ngôn ngữ: Tiếng Việt
Số trang: 584
Gia : 104.000VND
Ngay xuat ban: 26/11/2008

Tóm tắt

Những nhân vật và sự kiện được đề cập trong cuốn sách này hoàn toàn có thật. Tôi đã làm hết sức mình để giới thiệu thật chân thực về họ dựa trên những hồ sơ cá nhân, bản ghi chép, cũng có thư từ, e-mail, những hồi tưởng cũng như những văn bản được phép xuất bản. Trong một số trường hợp, tôi cũng có thay đổi tên nhân vật và các tình tiết, vì đó là một điều kiện mà rất nhiều người đặt ra khi tôi tiến hành phỏng vấn họ, hoặc cũng có khi tôi kết hợp các đoạn đối thoại cho phù hợp với mạch bài viết nhưng chỉ ở những đoạn không ảnh hưởng tới tính chân thực của cuốn sách. Mỗi khi đề cập tới những sự kiện lịch sử, tôi luôn tuân thủ giao ước của mình là cung cấp những thông tin cũng như ghi chép thật chính xác, đôi khi tôi còn minh họa thêm cho bài phát biểu của các nhân vật bằng những tài liệu tham khảo có liên quan ở phần ghi chú phía cuối. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tôi thay đổi hay xác nhận những chi tiết ẩn đằng sau những câu chuyện riêng tư đó; khi mỗi người kể về vai trò của họ trong những vụ không tặc máy bay dân dụng, xâm chiếm một đất nước để ám sát người đứng đầu đất nước, mua chuộc những nhà lãnh đạo cấp cao, đầu cơ trục lợi từ những thảm họa thiên nhiên, dụ dỗ và tống tiền những quan chức được bầu dân chủ, và kiểm soát những hành động bí mật khác, tôi cảm thấy mình phải có nghĩa vụ làm sáng tỏ những lời kể của họ. Tôi muốn nhấn mạnh rằng, bất cứ một sự kiện nào mà tôi đề cập đến đều từng được các tác giả khác, các sử gia và nhà báo hay những tài liệu lưu trữ của các tổ chức như Ngân hàng Thế giới đưa ra làm tài liệu dẫn chứng; vì vậy, câu chuyện có thể là của tôi nhưng các tình tiết trong đó đều là sự thật.

Mục lục

Phần một 33
Châu Á 33

Phần hai 149
MỸ LATINH 149

PHẦN III 283
KHU VỰC TRUNG ĐÔNG 283

PHẦN IV 393
CHÂU PHI 393

PHẦN V 479
THAY ĐỔI THẾ GIỚI 479

TuanVietNam

"Chính trị vỉa hè"

"Có tin đồn rằng George W. Bush đã bị quay lén khi đang sử dụng cocain và có hành vi quan hệ tình dục bất chính trong thời gian cha anh ta làm tổng thống."

Thế rồi, nhà lãnh đạo Panama lúc đó là Noriega đã "sử dụng những bức ảnh đồi truỵ của Bush con và người tình để thuyết phục Bush cha (khi đó đang là tổng thống) đứng về phía chính quyền Panama trong những vấn đề chủ chốt. Để trả đũa, Mỹ mang quân xâm lược Panama và đẩy Noriega vào nhà tù Miami."

Sự kiện Mỹ tấn công Panama năm 1989 được giải thích như vậy trong Lịch sử bí mật đế chế Hoa Kỳ. Không ai ngạc nhiên khi sách của John Perkins bán chạy. Ông biết cách viết, biết cách thắt nút và mở nút, biết đưa vào trong câu chuyện những tình tiết "vỉa hè" để một cuốn sách chính trị trở nên sống động, hấp dẫn.

Nếu như Lời thú tội của một sát thủ kinh tế (từ đây viết tắt là Lời thú tội) được viết như một tự truyện theo mạch thời gian tuyến tính, Lịch sử bí mật đế chế Hoa Kỳ (từ đây viết tắt là Bí sử) là một kiểu tự truyện được viết theo mạch không gian phi tuyến tính.

Cuốn sách đầu tiên của Perkins kể lại tuần tự cuộc đời sát thủ kinh tế của ông, từ khi "bán linh hồn cho quỷ" để gia nhập đội ngũ sát thủ kinh tế đến khi ngộ ra "tội lỗi". Cuốn sách thứ hai này chỉ như những ghi chép có ý thức của Perkins khi đi qua rất nhiều quốc gia và lục địa khác nhau. Từ Châu Á, Châu Mỹ Latinh rồi tới Châu Phi, đi đến đâu, Perkins cũng viết ra những trải nghiệm của mình và những người khác. trong quá trình nhận ra bản chất thật sự của "đế chế Hoa Kỳ".

Có khác nhau về cách kể chuyện, nhưng ý tưởng và thông điệp thì vẫn thế. Có thể coi Lịch sử bí mật đế chế Hoa Kỳ là phần tiếp theo của "bản tuyên ngôn" chống đế chế Mỹ nói riêng và toàn cầu hóa nói chung.

Những con bò cái bị vắt sữa

"Con bò cái mà chúng ta có thể vắt sữa cho tới khi về hưu"

Trong Lời thú tội, phó chủ tịch MAIN, một công ty tư vấn của Mỹ, đã nói như vậy khi nhắc tới Ảrập Xêút. Mà không chỉ đất nước này, toàn bộ các quốc gia đang phát trển theo Perkins đều là những con bò cái để nước Mỹ và tập đoàn đa quốc gia của họ "vắt sữa".

Hai cuốn sách của Perkins đều tập trung mô tả những âm mưu, quá trình và thủ đoạn "vắt sữa" của đế chế Mỹ. Âm mưu được thực hiện theo một tiến trình tuần tự với nhiều thủ đoạn. Núp dưới danh nghĩa xóa đói giảm nghèo, tập đoàn trị Mỹ (một liên minh giữa chính phủ, các ngân hàng và tập đoàn lớn) tìm mọi cách "viện trợ", "cho vay" để giúp các nước nghèo phát triển.

Qua những công ty tư vấn như MAIN (công ty mà Perkins từng làm việc), các sát thủ kinh tế vẽ ra những kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng… cho các nước nghèo và hào phóng cho họ vay tiền để thực hiện những kế hoạch đó.

Thực chất, các kế hoạch đã được sát thủ kinh tế "thổi phồng" và "phóng đại" hơn nhiều so với thực chất. Mục tiêu là để các nước khác phải vay thật nhiều và ngập trong nợ nần. Cho tới khi đó, nước Mỹ sẽ nắm quyền kiểm soát, ép các quốc gia đó phải trả nợ bằng nguồn tài nguyên khoáng sản và dầu mỏ của họ.

Tài nguyên bị vắt kiệt để trả nợ chứ không phải đầu tư cho an sinh xã hội, giáo dục, y tế đã đẩy dân nghèo ở các nước đang phát triển vào tình trạng bần cũng hóa. Đó là cái nôi nuôi dưỡng những kẻ khủng bố nước Mỹ mà sự kiện 11/9 là một ví dụ. Môi trường bị huỷ hoại nghiêm trọng bởi các tập đoàn tranh nhau khai thác vô tội vạ tài nguyên, khiến trái đất đứng trước những hiểm hoạ khôn lường.

Cuộc thập tự chinh mới của một đế quốc mới

Theo Perkins thì những định chế như Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) chỉ là những con bài để nước Mỹ sử dụng nhằm ép các nước nghèo đi theo quỹ đạo của họ. Đó là một cuộc Thập tự chinh mới, không phải bằng quân sự mà bằng kinh tế, không phải bằng những chiến binh giáo mác trên tay mà bằng những sát thủ kinh tế với các bản báo cáo giả tạo được vẽ vời cho ra vẻ khoa học. Mục tiêu là mở rộng đế chế Mỹ trên phạm vi toàn cầu để phục vụ cho lợi ích của một thiểu số những quan chức cấp cao và chủ những tập đoàn lớn.

Nhưng theo Perkins, thủ đoạn của đế chế Mỹ còn kinh khủng hơn thế. Khi những quốc gia đang phát triển bất tuân theo sự điều khiển của Mỹ, "lũ chó săn bắt đầu sử dụng đến những chiếc gậy bóng chầy và cuối cùng là súng." Những nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa dân tộc chống lại sự bóc lột của tập đoàn Mỹ sẽ bị mua chuộc bởi các sát thủ kinh tế.

Nếu các sát thủ kinh tế thất bại, những sát thủ thật sự của CIA sẽ vào cuộc. Cái chết của tổng thống Ecuador Jaime Roldos, tổng thống Panama Omar Torrijos và hàng loạt cái tên khác Arbenz, Mossadegh, Allende… đều có bàn tay vấy máu của CIA.

Gần đây nhất là cuộc chiến tranh Iraq để lật đổ nhà độc tài chống Mỹ Saddam Hussein dưới chiêu bài chống khủng bố. Theo Perkins, thực chất của tất cả những mỹ từ như dân chủ, nhân quyền, chống khủng bố chỉ là lớp áo che đậy cho âm mưu thật sự của Mỹ nhằm tước đoạt nguồn dầu mỏ, khoáng sản và khuynh loát thị trường của những quốc gia nghèo.

Trong Bí sử, Perkins đã định nghĩa đế quốc là một dân tộc thống trị dân tộc khác với 7 đặc điểm cơ bản và theo đó thì nước Mỹ hiện nay có cả bảy đặc điểm của một đế quốc. Tưởng như thời đại của chủ nghĩa đế quốc đã qua rồi nhưng thực chất, một hệ thống đế quốc mới đang được dựng nên, tinh vi và hiệu quả nhất mà thế giới từng thấy.

Tấn công vào "trái tim nhỏ máu của vua chúa"

Hai cuốn sách của Perkins như những bản cáo trạng đanh thép chống lại đế chế Mỹ mà đứng đằng sau nó là những tập đoàn lớn. Đọc Perkins để thấu hiểu những lý lẽ của phe chống toàn cầu hóa, thấu hiểu tại sao nhiều người dân ở Châu Mỹ Latinh và các quốc gia Trung Đông lại căm ghét nước Mỹ đến như vậy.

Perkins khiến người đọc phải nhìn lại tất cả những quan niệm cũ về ODA, FDI, WB, IMF… Tất cả những khoản vay "ưu đãi" được sử dụng để xây dựng cơ sở hạ tầng lại trở về túi chính những công ty trúng thầu là các tập đoàn của các nước cho vay. Cuối cùng, chỉ có các nước nghèo lâm vào cảnh nợ nần bởi những khoản vay khổng lồ dùng để tài trợ cho những dự án "bánh vẽ".

Tuy nhiên, nhìn đi cũng phải nhìn lại. Perkins có lẽ đã đi quá đà khi sử dụng thứ ngôn ngữ nặng nề nhất để chỉ trích không tiếc lời đế chế Mỹ, các tập đoàn Mỹ và tiến trình toàn cầu hóa. Không thấy có đoạn nào ông nhắc tới những giá trị mà nó đã tạo ra. Không thấy Perkins nói về những lợi ích to lớn của toàn cầu hóa, những đóng góp vĩ đại của các tập đoàn trong đổi mới công nghệ, sáng tạo sản phẩm, cải tiến mẫu mã, giảm giá thành…

Tất cả tội lỗi từ sự huỷ hoại của môi trường tới sự nghèo khổ của người dân các nước đang phát triển đều bị đổ vấy lên đầu các tập đoàn lớn, các nước giàu. Đọc Perkins dễ làm nhiều người bị kích động đi theo một quan điểm nguy hiểm: nghèo đói là vinh quang, giàu sang là tội lỗi, người nghèo vẫn cứ nghèo bởi bọn nhà giàu ăn cướp của họ. Lịch sử những cuộc cải cách ruộng đất, cách mạng văn hóa, quốc hữu hóa công nghiệp ở nhiều quốc gia đã chứng minh rằng quan điểm đó chỉ dẫn tới thảm họa.

May thay, phần kết của Lịch sử bí mật đế chế Hoa Kỳ đã mở ra một bầu trời tươi sáng hơn. Perkins đề xuất ra những biện pháp đấu tranh để "thay đổi chính bản thân các tập đoàn", khiến những tập đoàn lớn phải thực hiện những chính sách vì con người, vì môi trường và vì cộng đồng nhiều hơn.

Mỗi người phải có ý thức trong hành xử và tiêu dùng, phải ảnh hưởng tới những người khác, thuyết phục tập đoàn trị thay đổi chính sách của họ để biến "chủ nghĩa tư bản đế quốc thành chủ nghĩa tư bản dân chủ."

"Ngay cả vua chúa cũng là con người. Trái tim họ cũng có thể tan vỡ, chúng nhỏ máu. Họ có thể bị thuyết phục…" Thông điệp trong những trang cuối của cuốn sách đã mở ra những giải pháp tích cực để "chúng ta cùng chung tay đổi thay thế giới" như lời kêu gọi của Perkins.

* Khánh Duy

Một vài ý kiến của những người bình luận (phần lớn là chưa đọc sách)
Họ và tên: Hoàng Mai Dân
Địa chỉ: Hà Nội
Email: hoangmaidan@gmail.com

Tôi đã đọc cuốn "Lời thú tội của một sát thủ kinh tế", tôi đang đọc gần xong cuốn "Đô la hay lá nho" của Charles Wheelan. Hai tác giả này có cách nhìn khác nhau về thương mại và toàn cầu hoá nhưng cả 2 cuốn sách đều hay, với những ví dụ rất thực tế của toàn cầu hoá.

Có lẽ vì J. Perkins đã từng là một "sát thủ kinh tế" nên các ví dụ và cách phân tích của ông xoáy sâu vào bản chất vấn đề của các nhà đế quốc đã tính toán trước. Còn C. Wheelan đứng từ góc độ của một nhà phân tích kinh tế nên ông thấy được nhiều về lợi ích và tác hại kèm theo của việc toàn cầu hoá và giá trị lao động cũng như tiềm năng của mỗi quốc gia.

Cái gì cũng có điểm tốt, điểm xấu nhưng quan trọng là phải có cái nhìn khách quan và tận dụng những yếu tố có lợi cho mình và tiến lên.


Họ và tên: Nguyễn Trung Hiếu
Địa chỉ:
Email: olu2711@yahoo.com

Theo tôi nghĩ, chúng ta phải nên có tìm hiểu thấu đáo vấn đề rồi hãy rút ra kết luận. Tại sao chúng ta lại chỉ đọc vài dòng giới thiệu để rồi phê phán cuốn sách này cuốn sách kia. Nếu có phê phán thì hãy đọc xong cuốn sách chứ??
Tôi xin đặt câu hỏi cho tất cả các bạn phê phán cho cuốn sách này : Mĩ sẽ làm gì khi những đồng USD của họ phải trả cho việc mua dầu từ Trung Đông?
Chắn hẳn, các bạn sẽ nhận thấy 1 điều, nếu chỉ giao thương 1 chiều, thì giờ đây Trung Đông đã nắm trong tay hàng tấn tiền USD. Vậy còn cách nào hay hơn cách để các tập đoàn hùng mạnh của Mĩ sang xây dựng cho Trung Đông những thành phố đồ sộ, những tòa cao ốc chọc trời.
Nhiều bạn sẽ đặt câu hỏi: tiền của tôi thì tôi mua sắm, chứ liên quan gì đến anh? Chuyện về thế giới kinh tế không đơn thuần là vậy. Có câu nói: giờ đây Doanh nghiệp mới là thượng đế khi người tiêu dùng buộc phải tiêu dùng mặt hàng mà họ sản xuất (xin chú thích thêm: câu nói khách hàng là thượng đế là câu nói lí thuyết đã nằm im lìm trong các sách giáo khoa kinh tế)
Tôi sẽ đặt ra cho các bạn 1 câu hỏi nữa: Thử hỏi, có ai trên đời này cho KHÔNG 1 thứ gì cho chúng ta không? Vậy các nước Mĩ, Nhật, Tây Âu liệu có cho chúng ta "Viện trợ không hoàn lại" như đúng nghĩa của nó không?


Họ và tên: Khánh Duy
Địa chỉ:
Email: lonelymagician81@yahoo.com

Mỗi người đều có quan điểm đánh giá khác nhau. Perkins không phải không có lý của ông khi phê phán các tập đoàn. Cả cuộc đời Perkins đi khắp thế giới, hiểu biết rất nhiều về sự vận hành của hệ thống này. Ông viết cuốn này tương đối chủ quan, phê phán Mỹ thậm chí thoá mạ, nhưng theo tôi có thể có hai lý do:

1) Perkins vẫn nhìn thấy mặt tích cực nhưng có thể "cố tình" viết tiêu cực, nặng nề như vậy để kêu gọi sự thay đổi từ phía người dân và các tập đoàn. Một cuốn sách mang tính tuyên ngôn cho một quan điểm, nó không thể trung dung được mà buộc phải cực đoan.

2) Perkins với những kinh nghiệm làm sát thủ kinh tế của mình quá bị ảnh hưởng bởi những mặt tiêu cực. Ông viết từ những "thiên vị" của mình, cách nhìn tiêu cực của mình, không cần để ý tới khía cạnh tích cực.

Bản thân tôi ủng hộ toàn cầu hóa mà sau khi đọc xong mấy cuốn này cũng phải suy nghĩ lại một số quan điểm cũ của mình.

Nên đọc và coi đó như tài liệu tham khảo để có hiểu biết khách quan hơn.


Họ và tên: Minh Hải
Địa chỉ: Hải Phòng
Email: minhhaikt@gmail.com

Quyển sách này chẳng nói lên được điều gì cả, chỉ là cực đoan một chiều chẳng còn thích hợp chút nào cho hoàn cảnh hiện tại hoặc là chỉ làm lệch hướng tư duy của chúng ta mà thôi!

Vì như tất cả chúng ta biết rằng bản chất của buôn bán là trao đổi 2 chiều và anh phải có cái gì để trao đổi với người ta mới chính là vấn đề, nếu anh có chất xám thì anh có thể dùng chất xám để trao đổi, nếu anh có tài nguyên thiên nhiên thì anh có thể khai thác để trao đổi lấy những thứ mà mình không có khả năng làm.

Ở đây tác giả chỉ đề cập có một chiều nghĩa là tác giả chỉ thấy các các nước phát triển như Mỹ hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên của nước thế giới thứ 3 mà không thấy lợi ích của việc các nước này có thể tiếp cận với các sản phẩm kỹ thuật cao của Mỹ. Giả dụ tôi xin hỏi bạn Trung Hiếu là nếu Arab Saudi không khai thác và bán dầu cho Mỹ thì họ có thể giàu có đến như thế hay không hay dân họ sẽ phải chịu đói khổ trên cái sa mạc khô cằn mà đầy dầu mỏ đấy?

Còn bạn nói là Mỹ hay các nước phát triển o ép các nước xuất khẩu tài nguyên thì bạn càng lầm to vì tất cả chúng ta đều biết rằng giá dầu thế giới đang bị thao túng bởi tổ chức OPEC như thế nào rồi?

Ngược lại nếu Intel,IBM, AMD... mà hình thành một tổ chức độc quyền để thao túng giá chip thì ngay lập tức các bạn sẽ thấy chính phủ Mỹ áp dụng luật chống độc quyền ra sao


=> Tớ chưa đọc cuốn này nhưng qua lời giới thiệu thì thấy nó cũng hấp dẫn giống "Hồi ký của một sát thủ kinh tế" (free direct download link) cũng của John Perkins. Nhà sách Alpha cũng sắp xuất bản cuốn này (da xuat ban 11/2008), tuy nhiên, những ai đam mê thì chịu khó đọc bản english này đi. Đơi khi nào đọc xong thì tớ sẽ comment tiếp, còn ai đọc rồi thì có thể comment cho mọi ngừơi hiểu thêm nha.

Free download here
No commerce, pls!!