Monday, December 2, 2024

Gan ơi là gan - Babriel Perlemuter

 

Cuốn này nhiều thông tin thú vị hơn "Ruột ơi là ruột" và viết bằng ngôn ngữ gần gũi, dễ hiểu cho toàn cuốn.

Trong cuốn này, phần 1 thì nói đến quá trình gan tham gia xử lý thức ăn như một nhà máy.

Thức ăn vào cơ thể qua ống tiêu hoá và được biến đổi thành glucid (đường), lipid (mỡ), protein (đạm).

Để xử lý lipid thì gan tiết ra mật để nhũ hoá lipid trong ruột để đưa đến gan. Đối với protein thì tuyến tuỵ giúp cắt protein thành các mẩu nhỏ (acid amin) và vận chuyển tới gan. Đường là năng lượng chính của cơ thể, gan đóng vai trò duy trì lượng đường ổn định (0,8 - 1,2 g/l), tuỵ tạo ra insulin để gõ cửa bảo gan nạp vào, gan có thể tích trữ 70-100 gr đường.

Đối với lipid, khi nhận vào, loại đầu tiên là cholesterol (nguồn gốc của hormon giới tính estrogen và testosterone) được gan chia thành kiện nhỏ vận chuyển đến mô, cơ. Sau khi phân phối nhân tốt, phần rác còn lại gọi là LDL, sau đó gan tạo ra thuốc giải HDL để thu gom LDL. Loại chất béo thứ hai là triglyceride là các chất béo như omega-3 (cá mòi, cá hồi, cá trích), omega-6 (dầu hướng dương, dầu đậu nành), omega-9 (dầu oliu, hạnh nhân) thường lập thành bộ ba di chuyển trong máu, trigliceride thừa được lưu trữ ngoài gan (bụng mỡ, hông, đùi)

Đối với protein được gan tạo ra: (1) protein cấu trúc tạo nên tế bào; (2) protein phi cấu trúc giúp đông máu, albumin giúp giữ nước trong máu (thiếu thì phù); (3) protein phi cấu trúc ALT, AST. Tế bào gan chết đi , giải phóng ALT, AST >> nhiều ALT, AST nghĩa là tế bào gan chết nhiều 

Gan là nhà máy nên sẽ thải ra chất thải là amonia và gan biến đổi thành ure chuyển cho thận thải ra ngoài qua nước tiểu.

Hồng cầu mang theo các "túi xách tay" huyết sắc tố để vận chuyển oxy trong máu. Hồng cầu bình thường chết đi sau 4  tháng và gan xử lý các huyết sắc tố bằng cách biến chúng là bilirubin, khiến cho mật có màu vàng (kết hợp với gì trong ruột tạo nên phân màu nâu, và mùi hôi đặc trưng).

Phần 2 là cách làm sao cho gan khoẻ: chủ yếu là chế độ ăn uống, xen kẽ các chất, ăn chậm (ăn rau trước, sau mỗi miếng đặt thìa xuống để gan có thời gian xử lý và ra tín hiệu no). Gan chỉ xử lý được 50 gam cồn (thể tích lít x độ cồn x , vd 0,75L x 12 (%) x 8 = 72 gam cồn), cứ 10 gam cồn thì gan chuyển thành 0,2 g/l, và mỗi giờ bài tiết được 50% số này. 

Để xử lý cồn, gan chuyển cồn thành aldehyde rồi tạo ra ezym acid acetic (giấm) để thanh lọc. nhiều quá thì aldehyde sẽ tích tụ và huỷ hoại gan. Rượu nhiều thì men gan GGT tăng.

Bên lề: tránh chất làm ngọt , những gì ko phải tự nhiên. vd cỏ ban kích thích gan, làm đào thải nhanh thuốc tránh thai. Nhờ estrogen làm tăng hệ miễn dịch nên nữ sẽ ít viêm gan khi còn kinh.

Phần 3 là khi gan không khoẻ. Viêm gan do virus, lâu ngày mạn tính không kịp tái tạo, thì chuyển thành xơ gan (do bị huỷ hoại), xơ lâu thành cứng (ít đàn hồi). Từ xơ gan có 3% khả năng chuyển thành ung thư nguyên phát, ung thư biểu mô tế bào gan. Để được 97% thì cần tiêm vacxin, định kỳ siêu âm gan, siêu âm đàn hồi, tầm soát có thừa sắt (feritinin)

Virus viêm gan ABCDE. 

Viêm gan A do thiếu vệ sinh nhưng đã có vacxin dù chưa có phương pháp đặc trị. Trong 95% ca bệnh thì căn bẹnh sẽ tự thoái lui ko di chứng.

Viêm gan B (cứ 4 người có 1 người mắc). Ủ bệnh lâu. nên tránh bằng cách ko tiếp xúc với máu. Viêm gan D chỉ tồn tại khi có viêm gan B.

Viêm gan C đã có biện pháp điều trị trong 8-12 tuần, thuốc, thuốc 350 eur/vien.

Viêm gan E chưa có thuốc đặc trị nhưng hệ miễn dịch có thể tự kích hoạt và tống chúng ra khỏi cơ thể qua phân

 Hiện tại nên y học nghiên cứu điều trị gan hạn chế. Do tác động đến gan rất chậm, các nghiên cứu cần thí nghiệm , thực nghiệm và xin phép với tiến trình kéo dài 15 năm là bình thường.  Bên cạnh đó, các phương pháp sử dụng cây cỏ (như châu Á) chưa được kiểm chứng qua khoa học nhưng có tác dụng với người này mà lại không tác dụng với người khác. Có sao đâu, vì mắc bệnh đã bất bình đẳng thì liệu pháp trị liệu bất bình đẳng cũng là công bằng. Cuối cùng chỉ sót lại niềm tin.

Hay, sách nên đọc

Friday, November 29, 2024

Ruột ơi là ruột - Bí mật của thế giới bị lãng quên - Giulia Enders

 

Sách mô tả cách hoạt động của ruột trong chúng ta, bao gồm 3 phần

Phần 1 là các cảm nhận về ruột. Phần này bắt đầu bằng cách giải thích cách chúng ta đi ngoài, rồi sau đó chuyển đến việc tiếp nhận thức ăn ban đầu tư miệng với 4 lỗ tiết nước bọt, sau đó thức ăn đi qua thực quản, xuống đến dạ dày để nhào nặn chúng. Sau khi được nhào nặn thì thức ăn được tiêu hoá qua ruột non (dài khoảng 6m) với hàng tỷ nếp gấp. Qua khỏi ruột non thì chuyển đến ruột già, và có chào hỏi ruột thừa. Kết thúc phần này là 7 phân loại đối với phân. 

Phần này giúp hiểu thêm về sỏi amidan, tuyến nước bọt. thứ tự xử lý thức ăn.

Phần 2 là các hệ thần kinh của ruột. Bắt đầu từ mắt, mũi, miệng, hầu, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già. Tiếp đó phần này cũng giải thích cơ chế nôn, trào ngược, táo bón. Đến đây là 150 trang và kết thúc những gì dễ hiểu, quen thuộc mà người bình thường (như tôi) có thể hiểu. 

Đoạn cuối của chương này nói về não và ruột. Phần 3 nói về các loại vi khuẩn rất khó đọc tên. Có thể mọi người sẽ quen với 2 cái tên: Helicobacter Pylori (hay gọi là HP, trang 253) và thuốc kháng sinh (trang 295). Còn lại thì rất khó hiểu và nuốt trôi đoạn cuối trước và phần 3 này.

Ban đầu, mình tìm hiểu vì lời giới thiệu cuốn sách dễ đọc gần gủi nói về hoạt động của ruột và điều này đúng với 150 trang đầu sách với những giải thích ngôn từ đơn giản. Còn đoạn sau khi toàn thuật ngữ y khoa, không quen thuộc.

Một số điểm ghi nhớ là:

Nôn do say tàu xe do não nhìn nhận bất tương ứng giữa mắt và tai, xem nó là ngộ độc tiêu hoá. cảm xúc mạnh, căng thẳng do xúc động, áp lực, lo âu tạo nên hóc môn giải phòng corticotropin phản ứng với stress tên CRF (corticotropin releasesing factor), đủ dùng để buổi sáng đối mặt thử thách trong ngày. CRF ko chỉ tạo ra bởi não mà còn bởi tế bào dạ dày ruột. Nôn nhằm tiết kiệm năng lượng để giải quyết vấn đề khác. Cơ chế thuốc chống nôn tác dụng theo nhiều cách khác nhau: (1) ngăn chặn thụ thể ở trung tâm nôn của não, tác dụng như gừng tươi; (2) tê liệt dây thần kinh dạ dày, ruột; (3)ức chế tín hiệu báo động (giống dị ứng) là chất dẫn truyền tín hiệu báo động histamine, loại này mạnh nhất và gây ra buồn ngủ. Phương pháp cuối là P6


Táo bón do mất liên kết giữa dây thần kinh và cơ ruột. Bí quyết xử lý là: quân bình nước bằng thuốc nhuận tràng chứa đường, muối, chuỗi phân tử ngắn giữ nước. Đường nhuận tràng phổ biến là lactulose , tạo thành từ đường của sửa UHT, đường nhuận tràng ko làm từ sữa là sorbitol E420 (mận, lê, táo) do cơ thể ít hấp thu sorbitol vào máu . Chuỗi phân tử ngắn PEG (PG-3350).

Khi cảm lạnh, xét nghiệm procalcitonin để biết triệu chứng do vi khuẩn hay vi rút tạo ra. Cảm lạnh thông thường do vi rút thì không dùng kháng sinh. Cơ chế thuốc kháng sinh là đục lỗ vi khuẩn, đầu độc hay ức chế sinh sản của vi khuẩn. Vi khuẩn có cơ chế phát triển chống lại thuốc bằng cách trang bị các bơm nhỏ trên thành tế bào để bơm thuốc kháng sinh ra ngoài, hoặc nguỵ trang để thuốc kháng sinh không nhận ra bề mặt hoặc chúng tạo ra công cụ phân chia, cắt thuốc kháng sinh thành từng miếng nhỏ vô dụng. Dùng thuốc kháng sinh đủ ngày để những chiến binh kháng cự kém sẽ buông xuôi, nếu ko sẽ tạo ra chiến binh kháng kháng sinh và hậu quả khôn lường.

Cho nên với mình sách này cũng bình thường, không đáng ca ngợi quá, thích thì đọc 150 trang đầu rồi nghỉ.

Sau cuốn này mình sẽ đọc tiếp cuốn Gan ơi là Gan