Thursday, May 28, 2009

Tư Duy Chiến Lược



Tư Duy Chiến Lược (Lý Thuyết Trò Chơi Thực Hành)
Tác giả: Avinash K.Dixit. Bary J.Nalebuff. - Dịch giả: Lê Ngọc Liên. Nguyễn Tiến Dũng.
Nhà xuất bản: Nxb Tri Thức

Giới thiệu về nội dung
Tư duy chiến lược là nghệ thuật vượt qua đối thủ cạnh tranh, với nhận thức rằng họ cũng đang cố gắng vượt qua mình. Mỗi chúng ta đều phải áp dụng tư duy chiến lược cách này, hoặc cách khác tại nơi làm việc và ngay ở nhà. Thương gia và các doanh nghiệp sử dụng những chiến lược cạnh tranh phù hợp để tồn tại. Chính trị gia phải tạo ra những chiến lược quảng bá để được trúng cử và đưa ra những chiến lược hành pháp để thực hiện được những định hướng của họ. Các huấn luyện viên bóng đá vạch ra các kế hoạch chiến lược để các cầu thủ tiến hành trên sân bóng. Các bậc cha mẹ muốn giúp giáo dục con cái cũng phải trở thành những nhà chiến lược nghiệp dư. Trong 40 năm qua, những chiến lược điều tiết siêu năng lượng hạt nhân đã đảm bảo sự sinh tồn cuả trái đất.

Tư duy chiến lược đúng đắn trong nhiều hoàn cảnh khác nhau vẫn luôn là một nghệ thuật. Nhưng nền tảng của nó được xây dựng trên một số nguyên tắc cơ bản - một khoa học về chiến lượ. Mục đích của tác giả trong việc viết cuốn sách này là người đọc từ những lĩnh vực và nghề nghiệp khác nhau có thể trở thành những nhà chiến lược giỏi hơn nếu họ biết được những nguyên tắc này.

Ngành khoa học xã hội chuyên nghiên cứu quá trình ra các quyết định chiến lược được gọi là " Lý thuyết trò chơi ". Các trò chơi trong lý thuyết này bao gồm từ chơi cờ đến nuôi dạy trẻ, từ quần vợt đến các thương vụ thâu tóm trong kinh doanh, từ quảng cáo đến kiểm soát chạy đua vũ trang. Để chơi được những trò chơi này đòi hỏi rất nhiều loại kỹ năng khác nhau. Các kỹ năng cơ bản như khả năng ném trúng bóng vò rổ, sự am hiểu về các tiền lệ trong luật, hay chơi bài pôkê, thuộc về một loại kỹ năng, tư duy chiến lược là một loại khác.Tư duy chiến lược bắt đầu từ những kỹ năng cơ bản của bản thân bạn và xem xét xem làm thế nào để sử dụng chúng một cách tốt nhất. Là một luật sư bạn phải ra một quyết định có tính chất chiến lược để bảo vệ thân chủ của bạn. Là huấn luyện viên biết được đội bóng đá của bạn chuyến bóng hay dẫn bóng tốt đến đâu và đội kia phản ứng lại trước mỗi chọn lựa như thế nào, là huấn luyện viên bạn sẽ phải ra quyết định nên chuyền bóng hay dẫn bóng, tư duy chiến lược còn có nghĩa là biết khi nào không nên chơi.


" Nghệ thuật cạnh tranh được cập nhật trong cuốn sách này bởi Dixit và Nalebuff. Họ đã làm cho các công cụ chiến lược trở nên hài hước, gần gũi với con người và hiệu quả " (Elizabeth Bailey, Đại học tổng hợp Carnegie Mellon)
" Tôi phải thú nhận rằng tôi chưa bao giờ nghĩ về các chiến lược tiền tệ như một trò chơi, nhưng giáo sư Dixit và Nalebuff đã thành công rực rỡ và khi làm sáng tỏ những vấn đề chúng ta hằng đối mặt khi phải đưa ra những quyết định, dẫu vấn đề đó là vi mô hay vĩ mô " (Paul A.Volcker Đại học tổng hợp Princeton)
" Tư duy chiến lược cho bạn những công cụ cốt yếu để đàm phán hiệu quả " ( Bob Woolf, tác giả cuốn sự thuyết phục hoàn toàn)
" Để hiểu biết về hiện tại, bạn cần một sự hiểu biết khái quát về Lý thuyết trò chơi. Dixit và Nalebuff đã cung cấp cho bạn những chìa khoá cốt yếu. Bạn sẽ gặt hái được nhiều điều bổ ích và thú vị từ cuốn sách này " ( Paul Samuelson Giải Nobel Kinh tế 1970)

Mục lục:
Lời bạt
Lời giới thiệu
Phần 1:
1. Mười câu chuyện chiến lược
2. Đoán câu trả lời của đối thủ
3. Tư duy xuyên qua chiến lược đối phương
Lời bạt cho phần 1
Phần 2:
4. Hoà giải nghịch cảnh người tù
5. Các bước đi chiến lược
6. Cam kết đáng tin
7. Tính bất đoán
Lời bạt cho phần 2
Phần 3:
8. Kề miệng hố chiến tranh
9. Hợp tác và phối kết
10. Chiến lược tranh cử
11. Thương lượng
12. Các động cơ khuyến khích
13. Các bài tập tình huống khác

=> cuốn này đọc hay, đọc xong kiếm được mấy thủ thuật. Thích cái trò đấu giá trả theo giá người thứ 2 và trò cam kết trả phần chênh lệch nếu có nơi nào bán giá thấp hơn.

Sunday, February 15, 2009

Tư Tưởng Kinh Tế Kể Từ Keynes - Economic Thought Since Keynes - Michel Beuad


Tác giả: Michel Beaud. Gilles Dostaler. - Dịch giả: Nguyễn Đôn Phước.
Nhà xuất bản: Nxb Tri Thức
Số trang: 696
Hình thức bìa: Bìa mềm
Kích thước: 16 x 24 cm
Ngày xuất bản: 11 - 2008
Trọng lượng: 1100 gram
Giá bìa: 140.000 VNĐ

Sách này giới thiệu tư tưởng kinh tế kể từ khi tác phẩm Lí thuyết tổng quát của Keynes được xuất bản. Sách hướng dẫn đến những ai muốn tự định hướng trong mê cung của tư tưởng kinh tế đương đại. Đặc biệt sách nhắm đến sinh viên, giảng viên kinh tế và giảng viên các khoa học xã hội. Và cả những nhà kinh tế chuyên sâu vốn thường quen thuộc với những tác giả và những cuộc tranh luận trong chuyên ngành của mình sẽ tìm thấy ở đây một công cụ làm việc và tham khảo cho những lĩnh vực nghiên cứu khác.

Quyển sách này nhằm trình bày toàn bộ những chuyển động đã để lại dấu ấn trong tiến trình tư tưởng kinh tế kể từ cuộc cách mạng keynesian. Chủ yếu tập trung vào nội dung trung tâm của khoa học kinh tế đương đại, và do đó tập trung vào những phân tích, chủ đề và tranh luận cơ bản, sách này nhằm trình bày một cách tổng quát và có hệ thống những điểm cốt lõi hướng đến ba mục tiêu: làm cho số đông công chúng dễ nắm bắt bộ môn, cung cấp cho các chuyên gia một số thông tin được kiểm tra chặt chẽ, và khai thông vài hướng kiến giải.

Tóm lại, để trình bày tiến hóa của tư tưởng kinh tế đương đại, điều cần thiết là phải phối cảnh song song tiến hóa của tư tưởng này với những cuộc tranh luận giữa các trào lưu và phần trình bày của tác giả, với những đặc điểm và hành trình tư tưởng của họ. Chính vì thế bạn đọc sẽ tìm thấy trong quyển sách này:

- Trước hết là một phác thảo diễn tiến của lịch sử tư tưởng kinh tế qua đó trình bày - bằng cách tránh những đơn giản hóa - những bước tiến và những bước ngoặt có ý nghĩa, những trường phái, trào lưu và tranh luận trong sự chuyển động chung này; những tác giả có một vài trò chủ yếu hay có ý nghĩa được nêu bật;

- Tiếp đấy là một từ điển tác giả: một trăm bốn mươi lăm tác giả được nghiên cứu; cho mỗi tác giả lần lượt được trình bày đôi nết về tiểu sử, một thư mục những công trình chính được công bố, một phần phân tích những đóng góp của tác giả vào tư tưởng kinh tế và cuối cùng là những công trình có chọn lọc được viết về tác giả;

- Cuối cùng, sau một thư mục tổng quát, là một bảng tra cứu cho phép tìm nhanh tất cả các tác giả được nêu tên (những tác giả trong từ điển và cả những tác giả không có mặt trong từ điển nhưng được nêu trong phần trình bày lịch sử cúng như những tác giả của những sách và bài viết được trích dẫn).

Mục lục:

Lời giới thiệu

Lời tựa (cho ấn bản tiếng Việt)

Lời nói đầu (cho án bản rút gọn)

Lời người dịch

Trình bày sơ lược

Phần I. Phác thảo một lịch sử tư tưởng kinh tế kể từ lí thuyết tổng quát của Keynes

Dẫn nhập

1. Keynes và lí thuyết tổng quát

2. Cuộc cách mạng keynesian

3. Thắng lợi huy hoàng của chủ nghĩa can thiệp

4. Tiên đề hóa, hình thức hóa, toán học hóa

5. Một số thuyết chính thống mới: Tổng hợp tân cổ điển

6. Tính thường trực và đổi mới của những học thuyết phi chính thống

7. Sự trỗi dậy của học thuyết tự do

8. Những kinh tế học vĩ mô mới

9. Về tháp Babel và ba cách tiếp cận của tư tưởng kinh tế đương đại

Lời bạt (cho ấn bản tiếng Việt)

Phần II. Từ điển những nhà kinh tế đương đại chính


From TuanVietnam

Đọc lại Keynes giữa buổi "đầy ắp âm thanh và cuồng nộ"
16/12/2008 07:57 (GMT + 7)
Michel Beaud và Gilles Dostaler chọn năm 1936, năm xuất bản tác phẩm chính của Keynes - Lí thuyết tổng quát về việc làm, tiền lãi và tiền tệ làm khởi điểm cho một phác họa toàn cảnh diễn tiến sôi động của tư tưởng kinh tế đến cuối thể kỉ qua, một lịch sử "đầy ắp âm thanh và cuồng nộ".

Tên sách: TƯ TƯỞNG KINH TẾ KỂ TỪ KEYNES
Tác giả: Michael Beaud & Gilles Dostaller
Dịch giả: Nguyễn Đôn Phước
Phát hành: NXB Tri thức & Phương Nam Books
(Tủ sách Dẫn nhập - NXB Tri thức)
Xin trích dẫn những dòng cuối của tác phẩm nổi tiếng của Keynes:

"Tư tưởng của các nhà kinh tế học và các triết gia chính trị học còn có thế lực mạnh hơn là người ta tưởng kể cả khi tư tưởng đó đúng hay sai ... Những người có đầu óc thực tiễn cho rằng họ hoàn toàn không bị chi phối bởi bất kì ảnh hưởng của học thuyết nào lại thường là nô lệ của một nhà kinh tế học nào đã chết. Những kẻ điên rồ nắm quyền lực trong tay tưởng như nghe thấy tiếng nói trong không trung, nhưng lại đang chắt lọc cuồng mộng của họ từ một cây bút tầm thường nào đó mấy năm về trước.

Tôi chắc rằng tầm quan trọng của những lợi ích cục bộ được thổi phồng lên nhiều so với ảnh hưởng mở rộng dần dần của những tư tưởng này ... Sớm hay muộn, chính những tư tưởng, chứ không phải những lợi ích cục bộ, mới là điều nguy hại đối với điều tốt hay điều xấu".

Cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế đang diễn ra càng làm nổi bật tính thời sự của nhận định trên về tầm quan trọng của tư tưởng kinh tế, như được minh chứng qua cuộc đối thoại sau.

Ngày 23/10 vừa qua, điều trần trước quốc hội Mĩ, ông Greenspan, khi được nhắc lại niềm tin của ông trước đây vào hệ thống "free market" mà theo lời ông thì "những thị trường tự do và cạnh tranh là cách tốt nhất, và không có gì bằng, để tổ chức các nền kinh tế", đã thừa nhận rằng ông đã "tìm thấy một sai lầm, một vết rạn nứt, không rõ có ý nghĩa như thế nào và mang tính thường xuyên hay không, khiến tôi vô cùng đau khổ".

Bị vị chủ tịch ủy ban giám sát hoạt động chính phủ hối thúc ông nói rõ thêm ý ông khi hỏi thẳng: "Nói cách khác, phải chăng ông thấy rằng thế giới quan, hệ tư tưởng của ông là không đúng, không khả thi", Greenspan xác nhận ngay: "Đúng vậy, chính xác là như thế. Đó là lí do khiến tôi bị sốc vì trong suốt 40 năm hay lâu hơn thế nữa, một cách vô cùng hiển nhiên hệ thống đã hoạt động đặc biệt tốt".

Sự kiện người cầm chịch chính sách tiền tệ Mĩ trong gần hai mươi năm liên tục mà mỗi một tuyên bố khiến thị trường phải chờ đón từng lời, hai năm trước mới rời khỏi chức vụ trong hào quang của một bậc thầy (maestro), nay buộc phải nhận một phần trách nhiệm để nổ ra cuộc khủng hoảng chưa biết sẽ đưa thế giới về đâu, đủ biện minh cho việc cần phải quan tâm đến tư tưởng kinh tế.

Cũng trong lần phát biểu trên trước quốc hội Mĩ, Greenspan còn thừa nhận là sự thất bại trong việc xác định đúng đắn giá những tài sản có rủi ro cao đã đẩy nhanh cuộc khủng hoảng và nhắc đến các công trình của cái gọi là giải Nobel kinh tế năm 1990 làm cơ sở hỗ trợ cho những tiến bộ của thị trường các chứng khoán phái sinh, dựa trên công nghệ tin học và viễn thông, với sự góp sức của các chuyên gia toán học và tài chính.
Ông cũng nhận định rằng thiết kế lí thuyết này, từng có ảnh hưởng lớn đến việc quản lí rủi ro suốt nhiều thập niên đã sụp đổ vào mùa hè năm qua, nhưng vẫn cho rằng nếu các mô hình được nạp thêm dữ liệu về những thời kì lịch sử khác thì bộ mặt của thị trường tài chính sẽ không thê thảm như hôm nay.

Trong Tư tưởng kinh tế kể từ Keynes, Beaud và Dostaler dành nguyên một chương cho sự hình thành xu hướng tiên đề hóa, hình thức hoá và toán học hoá, được xem như một "đột biến triệt để" mà tầm quan trọng, trong một thời gian dài, bị cuộc "cách mạng keynesian" che khuất.

Trước những biện pháp đối phó khẩn cấp của các chính quyền phương Tây, một sinh viên chỉ còn nhớ tư tưởng kinh tế qua danh tiếng của những nhà lí thuyết nối tiếp nhau trong thời gian có thể cho rằng giờ Keynes phục thù Hayek đã điểm!

Hay một nhà báo theo dõi thời sự kinh tế có thể cho là cuộc khủng hoảng đang tiếp diễn khép lại mấy thập niên thống trị của học thuyết "tân tự do" và từ nay sẽ là sự hồi sinh của các chính sách tùy nghi theo kiểu keynesian và của những biện pháp quy định hoá.

Nhưng ai có đọc Tư tưởng kinh tế kể từ Keynes thì sẽ không vội vàng tiếp nhận kiểu kết luận như thế. Vì bao giờ cũng có một khoảng cách giữa tư tưởng của lí thuyết gia và những chính sách được thực thi nhân danh (hay núp bóng hoặc đội lốt) tư tưởng này. Phải chăng vì thế mà tương truyền rằng Keynes từng thốt lên: "Tôi không phải là một nhà keynesian", cũng như Marx trước đây có nói ông không phải là nhà marxist?

Và nếu trong lịch sử, sự phân cực các học thuyết khác nhau diễn ra trên trục Nhà nước-thị trường thì hai tác giả cũng đã cho thấy là dù cho ở mỗi thời điểm, bao giờ cũng có sự thống trị của một học thuyết "chính thống" nhưng nhiều học thuyết "phi chính thống" khác vẫn không chịu khuất phục. Bối cảnh hình thành, tính phức tạp, đối lập lẫn đan xen, chuyển hoá lẫn nhau, thậm chí hội tụ trên một số điểm nhất định, giữa các trào lưu khiến cho họa đồ tư tưởng kinh tế đương đại không chỉ đậm một gam màu duy nhất.

Điều này càng hiện rõ khi bắt đầu xuất hiện những cách lí giải và đề xuất hướng thoát khỏi cuộc khủng hoảng hiện nay theo quan điểm của trường phái Áo (ABCT), theo cách nhìn hậu keynesian kiểu Minsky, theo quan điểm thể chế, theo quan điểm marxist, hoặc vận dụng những khái niệm như tính bất toàn của thông tin, thông tin không đối xứng, hoặc lấy cảm hứng từ kinh tế học hành vi...vv...

Đối với nhà nghiên cứu muốn theo dõi các cuộc tranh luận lí thuyết đang khởi động chung quanh cuộc khủng hoảng hiện nay, quyển Tư tưởng kinh tế kể từ Keynes cung cấp những thông tin ban đầu về các vấn đề không thuộc chuyên ngành hẹp của mình. Để viết tác phẩm này, Beaud và Dostaler tuân thủ các nguyên tắc sau: "Từ chối đánh giá nội dung có trước mắt theo thước đo của bất kì học thuyết chính thống nào", "kết hợp lịch sử tư duy và lịch sử tư tưởng" và vận dụng "phương pháp tái tạo lịch sử", tức là "trình bày tư tưởng của các tác giả bằng chính những khái niệm do chính các tác giả này sử dụng và theo những cách trình bày mà họ có thể chấp nhận".
Tác phẩm còn có phần từ điển điểm qua tiểu sử, sự nghiệp, những đóng góp và luận điểm của 150 nhà kinh tế đương đại chính tiêu biểu cho các trào lưu khác nhau trong số hơn 1.000 nhà kinh tế được nêu tên và/hoặc trích dẫn trong phần phác thảo lịch sử. Thư mục chung cùng với những thư mục chi tiết về các tác giả có mặt trong từ điển, và một bảng tra cứu theo chủ đề biến quyển sách thành một công cụ làm việc đắc lực, tập hợp nhiều nguồn tham khảo cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn.

Về mặt học thuật trên đây là vài nét chính tôi thu hoạch được khi đọc Tư tưởng kinh tế kể từ Keynes, với mong muốn chia sẻ cùng các bạn rằng kinh tế học không hẳn đã là một "khoa học buồn thảm" (dismal science).

Nhưng tôi sẽ sai lầm nếu gieo cho các bạn cảm giác rằng đây là một quyển sách hàn lâm do hai giáo sư đại học ngồi viết trong tháp ngà. Với tư cách nhà khoa học, các tác giả đã viết tác phẩm một cách khách quan, trung thực dựa trên một quan điểm rõ ràng như vừa được nêu, thoả mãn đầy đủ những chuẩn mực học thuật nên được các đồng nghiệp đánh giá cao, dù có đồng ý với họ hay không.

Vì đứng trước sự phong phú của tư tưởng đương đại, hai đồng tác giả giữ thái độ không giáo điều khi viết rằng: "Nhận xét có sự bùng nổ [...] của tri thức kinh tế trước hết phải dẫn đến việc ghi nhận tính đa dạng, chấp nhận sự đa nguyên này nhưng cũng là để mọi người cùng chấp nhận nó".

Nhưng thấm nhuần tinh thần nhân văn của thế kỉ Ánh sáng, như câu họ trích dẫn nhà văn Rabelais cho thấy: "Khoa học mà không có lương tâm chỉ là điêu tàn của tâm hồn", nên với tư cách nhà kinh tế đồng thời cũng là công dân toàn cầu, họ không ngần ngại lên tiếng khi nhận thức rằng trái đất không phẳng.

Trong lời tựa cho bản in tiếng Việt, sau khi nhắc lại đánh giá của Keynes trong chương 12 nổi tiếng của Lí thuyết tổng quát, rằng đầu cơ là vô hại khi các nhà đầu cơ là những "bọt bong bóng trong dòng hoạt động kinh doanh ổn định" thì tình hình trở nên nguy kịch khi "hoạt động kinh doanh chỉ còn là một bọt bong bóng trong cơn lốc đầu cơ", và như thế sự phát triển của tư bản trở thành "một thứ phẩm của các hoạt động trong sòng bạc", Gilles Dostaler viết tiếp :

"Nhận định trên của Keynes có tính tiên tri và đáng kinh ngạc khi ta xét đến sự phát triển trong hai mươi năm vừa qua, với việc nhân bội các cuộc khủng hoảng tài chính, mà cuộc khủng hoảng mới nhất vào lúc những dòng này được viết ra (tháng giêng 2008), gây nên bởi đầu cơ bất động sản quá đáng ở Hoa Kì, bắt đầu được mở rộng và đe dọa nền kinh tế thế giới.

Sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods, mà Keynes đã góp phần dựng lên, việc phi quy định hoá tài chính, việc hủy bỏ mọi cản trở cho sự lưu thông vốn trên bình diện quốc tế, tất cả các hiện tượng liên kết với nhau này và gắn với điều được gọi là toàn cầu hoá làm cho những xu hướng nguy hiểm cho sự tồn vong của nhân loại thêm đậm nét.

Từ nay, hơn bao giờ hết, chủ nghĩa tư bản là một hệ thống thế giới bị các quyền lực tài chính thống trị, những quyền lực mà thước đo duy nhất là đồng tiền và mục đích duy nhất là khả năng sinh lợi tài chính. Trách nhiệm của những nhà kinh tế (trên cương vị công dân) là phải góp phần đảo ngược xu hướng này".

Còn trong lời bạt, Michel Beaud nhất trí là "chúng ta đang ở trong một cuộc đột biến toàn cầu không có tiền lệ trong lịch sử [...] và bị cuốn vào một quá trình tiến hoá mạnh mẽ và nguy hiểm đe dọa tương lai của các xã hội loài người, chủ nghĩa nhân văn và hành tinh". Thế mà, ông thất vọng ghi nhận rằng: "đứng trước thách thức này, phần chủ yếu của các công trình trong kinh tế học không được lồng vào một nỗ lực tập thể nhằm góp phần chẩn đoán và đề xuất những liệu pháp".

Một phần vì, như Gilles Dostaler đã nhấn mạnh trong lời tựa, "một phần lớn lí thuyết kinh tế hiện nay giống như toán học ứng dụng hơn là suy tư về hiện thực con người và xã hội. Một phần khác vì hiếm có những nhà kinh tế mà động cơ các công trình của họ là một động cơ đạo đức, chính trị, hay đơn giản hơn là vì con người".

Bởi thế, sau khi "nhắc lại rằng trong hơn hai thế kỉ, hầu hết những công trình kinh tế học chính trị đều không bỏ qua chiều kích đạo đức, lẫn lịch sử và các bộ môn khác bàn về con người và xã hội", Michel Beaud kêu gọi các nhà kinh tế noi gương hai bậc tiền bối ở Cambridge là Marshall và Keynes để "khi tính đến sự phân mảnh của tri thức, học cách tư duy tính phức hợp trong sự cộng tác với các chuyên gia của tất cả các bộ môn liên quan đến đối tượng nghiên cứu, ...xem Trái đất trong tổng thể của nó và trong sự đa dạng của những hệ sinh thái và xem Nhân loại trong tính thống nhất của nó và trong sự đa dạng của các xã hội con người và do đó tìm kiếm những giải pháp" cho điều ông gọi là "cuộc xung đột các quá trình tái sản xuất", "vừa với mối quan tâm đến tính tổng thể vừa nghĩ đến tính đa dạng của các lộ trình".

Và ông mong chờ "các xã hội mới nổi lên, những xã hội năng động nhất và sáng tạo nhất của giai đoạn hiện nay, không chỉ phải tìm cách đuổi kịp mà còn phải đi trước bằng cách sáng tạo không phải chỉ công nghệ và năng lượng mà còn cả những nền nông nghiệp, những phương thức qui hoạch đô thị, những phương tiện giao thông vận tải không gây nguy hại cho Trái đất và sự Sống".

Xin được kết thúc với những trích dẫn tâm huyết trên của hai đồng tác giả, và nếu phải gói gọn trong một câu tôi sẽ nói rằng quyển Tư tưởng kinh tế kể từ Keynes là một sản phẩm trí thức ra đời trong những đất nước có xã hội dân sự phát triển.

Dịch giả Nguyễn Đôn Phước

=> tác phẩm mang phong cách hàn lâm nhưng rất chăm chút, thuận tiện cho việc nghiên cứu các học thuyết kinh tế. Là tài liệu tham khảo có giá trị.
Sách khá dày nhưng phần nội dung chính chỉ có 287 trang, phần còn lại là từ điển các nhà kinh tế đương đại chính.
Bản gốc của tác phẩm là tiếng Pháp và sách dịch cũng được dịch từ cuốn gốc này.

Free download english version.

Saturday, January 31, 2009

Nguồn Gốc Khủng Hoảng Tài Chính - Origin of financial crises (George Cooper)



Nguồn Gốc Khủng Hoảng Tài Chính
Tác giả: George Cooper. - Dịch giả: Minh Khôi. Thuỷ Nguyệt.
Nhà xuất bản: Nxb Lao động Xã hội
Số trang: 240
Hình thức bìa: Bìa mềm
Kích thước: 13 x 20.5 cm
Ngày xuất bản: 12 - 2008
Trọng lượng: 260 gram
Giá bìa: 55.000 VNĐ

Giới thiệu về nội dung

Cuốn sách này được viết ra như một câu trả lời cho cuộc khủng hoảng tín dụng hiện nay nhằm lý giải nguyên nhân tại sao nền kinh tế toàn cầu nói chung và nền kinh tế Mỹ nói riêng lại bị mắt kẹt trong đám bong bóng giá tài sản tưởng chừng như vô tận do các cuộc khủng hoảng tín dụng gây ra. Cuốn sách miêu tả quá trình tạo nên những vòng quay luẩn quẩn này và sau đó, chỉ ra lý do đằng sau những sai lầm trong chính sách đã làm trầm trọng thêm những chu kỳ ấy.

Cuốn sách sẽ đưa ra những thảo luận sâu sắc hơn về cách chúng ta nên đổi mới các chính sách kinh tế vĩ mô và giúp đa số độc giả hiểu về tính bất ổn tài chính và ngân hàng trung ương. Nếu chúng ta có ý định phá vỡ các chu kỳ bùng vỡ (booms and busts) nguy hại, mọi chủ thể tham gia nền kinh tế cần nhận thức được chính xác vai trò và những giới hạn của các chính sách kinh tế vĩ mô. Các chính trị gia và người dân cần nhận thức rõ ràng việc áp dụng các chính sách tiền tệ và tài khoá để ngăn chặn ngay lập tức những suy thoái kinh tế là điều không thể. Các ngân hàng trung ương nên quay trở lại với mục đích chính của mình là quản lý quá trình tạo tín dụng và cần phải học cách chung sống với những sức ép từ phía các chính trị gia cũng như từ khu vực kinh tế tư nhân đòi mở rộng việc bơm tín dụng không ngừng vào nền kinh tế.

Trọng tâm của cuốn sách này nằm ở lý luận rằng hệ thống tài chính của chúng ta không vận hành theo các quy luật của Thuyết thị trường Hiệu quả, như nhận thức phổ biếtn về kinh tế hiện nay. Quan điểm của tác giả là hệ thống tài chính của chúng ta vốn bất ổn, không hề có trạng thái cân bằng ổn định và thường thiên về hướng tạo nên những chu kỳ bùng vỡ nguy hại. Tác giả cho rằng tình trạng không ổn định này đỏi hỏi các ngân hàng trung ương phải quản lý quá trình tạo tín dụng. Tuy nhiên, tác giả cũng lý giải việc các chính sách của ngân hàng trung ương theo thời gian đã trượt từ mục tiêu bình ổn các hoạt động kinh tế sang thái cực ngược lại, khuyếch đại các chu kỳ bùng – vỡ, làm bất ổn thêm nền kinh tế của chúng ta.

=> Sách viết hay, giải thích nhiều vấn đề về tiền tệ, lạm phát, Ngân hàng trung ương và chính sách điều hành với cách diễn đạt khá dễ hiểu, có tính chất so sánh từng luận điểm để tiện theo dõi vấn đề. Sách cũng giải thích nhiều từ chuyên ngành một cách khá rõ ràng và dễ hình dung. Cấu trúc chặt chẽ và có tính cập nhật. Dẫn chứng, lý giải rõ ràng. Ít lỗi chính tả đánh máy.

Trong cuốn này có 1 câu, thấy rất có lý:
"TRONG THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH, SỰ TRUNG THÀNH THƯỜNG KHÔNG ĐƯỢC ĐỀN ĐÁP"

Tóm tắt nội dung:

Lời cảm ơn

Lời nói đầu

1. Giới thiệu
- Chính sách cân bằng, thuyết Thị trường hiệu quả.

2. Các thị trường hiệu quả và các ngân hàng trung ương
- Ngân hàng trung ương: nên tồn tại hay không nên tồn tại?
- Các trường phái điều hành chính sách (nhà thương điên)

3. Tiền, ngân hàng và ngân hàng trung ương
- Tiền, quá trình tạo tín dụng và con Quái Vật Lạm Phát
- Ngân hàng trung ương: người cho vay cuối cùng và rủi ro đạo đức (moral hazard)
- Lạm phát và thuế; chính sách của Keynes

4. Các thị trường ổn định và không ổn định
- Sự khác nhau cơ bản của thị trường hàng hoá và thị trường tài sản là cách thị trường đối phó với giá cả chuyển dịch hay cầu chuyển dịch.

5. Những lập luận mập mờ
- Nhà đầu tư lý trí và thuyết Thị trường hiệu quả
- Biến số: ảo ảnh dữ liệu và tăng trưởng tín dụng

6. Các thống đốc (ngân hàng trung ương)
- Eurofighter Typhoon (khái niệm mới được đề cập trong sách này) và nền kinh tế lắc
- Hình thức điều khiển của Ngân hàng trung ương và những cú sốc.
- Triển vọng của hệ thống điều khiển.

7. Minsky gặp gỡ Mandelbrot
- Ẩn số được biết và ẩn số chưa được biết (hay còn gọi là "rủi ro Knightian")
- Quản lý rủi ro dựa vào thuyết thị trường hiệu quả giống như ấm trà Socola
- Rủi ro của việc đo lường và hệ thống quản lý rủi ro định lượng.

8. Đối mặt với ảo tưởng về thị trường hiệu quả
- Sự chọn lọc và cần thiết có học thuyết mới
- Những lựa chọn trong ngắn hạn:
+ Thị trường tự do
+ Khuyến khích mua sắm
+ Lạm phát

9. Các kết luận

Về kết luận thì tác giả có vẻ nghiên về trường phát quản lý cung tiền để quản lý tăng trưởng tín dụng của ECB, đồng thời tác giả cũng chỉ trích FED về cách điều hành. (W.)

Update 31Jul2009: download link here (english)

Saturday, December 20, 2008

Chương trình xem ebooks

Microsoft Reader : xem các ebooks định dạng *.lit (download)
LizardTech : xem các ebooks định dạng *.djvu (download)
Mobipocket Reader : xem các ebooks định dạng *.prc (download)

Doc sach nhu mot nghe thuat - How to read a book



Tác giả: Mortimer J.Adler. - Dịch giả: Hải Nhi.
Nhà xuất bản: Nxb Lao động Xã hội

Đọc sách như một nghệ thuật, ngay từ lần xuất bản đầu tiên năm 1940, đã được đánh giá là cuốn sách hướng dẫn đọc hiểu lý thú và hiệu quả nhất dành cho độc giả phổ thông. Cuốn sách đã nhanh chóng trở thành một tác phẩm kinh điển về cách đọc sách thông minh.

Đọc sách như một nghệ thuật giúp bạn khám phá và lĩnh hội các cấp độ đọc khác nhau, từ đọc sơ cấp, đọc lướt có hệ thống đến đọc kiểm soát và đọc siêu tốc. Bạn có thể áp dụng các cấp độ này cho việc phân loại, chụp X-quang hay phê bình sách, tuỳ theo nhu cầu và mục đích của mình. Nhờ các kỹ năng đọc được hệ thống ở đây, bạn sẽ biết cách tiếp cận và nắm bắt tất cả các loại văn bản, dù đó là sách thực hành, khoa học, toán học, triết học, lịch sử hay các tác phẩm văn học.

Đọc sách như một nghệ thuật, hơn hết, thúc đẩy ta trở thành độc giả say mê. Cuốn sách là người bạn đường không thể thiếu của mỗi người trên hành trình đối thoại để học hỏi, khám phá, tu thân và trưởng thành, như Decartes đã nói: "Đọc sách là được trò chuyện với những người thành đạt nhất của các thế kỷ đã qua".

Mục lục:

Lời nói đầu

Phần 1: Các phương diện đọc sách

Đọc sách và nghệ thuật đọc sách

Các cấp độ đọc

Cấp độ đọc đầu tiên - Đọc sơ cấp

Cấp độ thứ hai - Đọc kiểm soát

Cách trở thành một độc giả yêu cầu cao

Phần 2: cấp độ đọc thứ ba - Đọc phân tích

Phân loại một cuốn sách

"Chụp X-quang" một cuốn sách

Thống nhất các thuật ngữ với tác giả

Xác định thông điệp của tác giả

Đưa ra những lời phê bình hợp lý

Đồng ý hay bất đồng với tác giả

Những phương tiện giúp việc đọc

Phần 3: Tiếp cận những chủ đề sách khác nhau

Cách đọc sách thực hành

Cách đọc tác phẩm văn học giả tưởng

Những gợi ý khi đọc truyện, kịch và thơ

Các đọc sách lịch sử

Cách đọc sách khoa học và sách toán

Cách đọc sách triết học

Cách đọc sách khoa học xã hội

Phần 4: Mục đích cao nhất của việc đọc sách

Cấp độ đọc thứ tư Đọc đồng chủ đề

Đọc sách và sự phát triển trí tuệ.

=> Cuốn này đọc cũng được, nội dung gần với cuốn "Phương pháp ghi nhận". Cũng tham khảo được nhiều ý hiihi..

free download (bản tiếng việt, định dạng prc)

Sử dụng Mobipocket reader để xem file prc. Download Mobipocket reader

Sunday, November 23, 2008

Những Đỉnh Cao Chỉ Huy - Cuộc Chiến Vì Nền Kinh Tế Thế Giới (THe commanding heights - The battle for the world economy) - Daniel A. Yergin




Tác Giả: Joseph Stanislaw - Daniel Yergin
Nhà Xuất Bản: NXB Tri Thức
Số Trang: 832
Giá Bìa: 110,000VNĐ
(discount 30% tại các quầy sách KimDung, Sach4u trên đường Trần Huy Liệu, HCM hoặc Sách Hà Nội trên Minh Khai)

Những Đỉnh Cao Chỉ Huy thể hiện một cách thuyết phục và đầy ấn tượng về những thách thức chủ yếu của thời đại ngày nay và tương lai đối với các chính sách của chính phủ và hoạt động của các công ty.
(Trường Đại Học Harvard).

Thực ra, câu chuyện thất bại nhà nước và thất bại thị trường hay mối quan hệ nhà nước - thị trường không phải chủ đề nghiên cứu mới hay của riêng công trình do UNDP thực hiện. Nó chỉ góp thêm một tiếng nói, rất thiết thực và bổ ích, trực tiếp cho người Việt Nam lúc đó mới chập chững bước vào kinh tế thị trường - một thị ttrường mới mở cửa ( mới được mươi năm kể từ khi đổi mới), nhằm làm sáng tỏ thêm một vấn đề có thể coi là xưa cũ, một vấn đề đã từng đeo đẳng, giày vò loài người nhiều thế kỷ mãi cho tới tận ngày hôm nay.

Những Đỉnh Cao Chỉ Huy cũng là một công trình được viết trong nỗi ám ảnh của sự giày vò đó. Nó cũng bàn về vấn đề nhà nước - thị trường. Như hàng ngàn cuốn sách khác, nó bàn về một trong những vấn đề lớn nhất, phức tạp nhất, gây nhiều phiền hà nhất, do đó, cũng là thú vị nhất của lịch sử phát triển nhân loại.
Cuốn sách có nhiệm vụ trả lời những câu hỏi lớn của lịch sử hiện đại: Tại sao phải chuyển sang cơ chế thị trường ? Tại sao và như thế nào mà sự chuyển đổi từ kỷ nguyên, trong đó, chính phủ các quốc gia luôn tìm cách nắm giữ và kiểm soát nền kinh tế nhà nước sang kỷ nguyên với những ý tưởng về cạnh tranh, mở cửa, tư nhân hoá và bãi bỏ các phép tắc đã và đang thống trị tư tưởng kinh tế thế giới? Liệu những thay đổi này có phải là không thể đảo ngược? Chúng có phải là một phần của quá trình phát triển và tiến hoá liên tục? Hơn thế nữa kết quả và viễn cảnh chính trị, xã hội, kinh tế của sự thay đổi căn bản này trong mối quan hệ giữa chính phủ và thị trường là gì?
Đối diện với loài người là một thế giới ngày càng toàn cầu hoá. Trong thế giới đó, không gian thu hẹp lại, thời gian được rút ngắn lại, các rào biên giới hạ thấp, và thế giới trở thành một ngôi làng. Khi đó, nền kinh tế thị trường vận hành với nhêìu quy tắc mới. Toàn cầu hoá, như các tác giả viết, là một thách thức đối với nhà nước. Vì vậy mà vai trò và chức năng của nhà nước chắc chắn cũng sẽ có những thay đổi mạnh mẽ. Quyền lực nhà nước bị giới hạn trong phạm vi quốc gia có thể sẽ xung đột với quá trình toàn cầu hoá các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Khí đó, câu hỏi đặt ra sẽ là những đỉnh cao chỉ huy mà các nhà nứơc - quốc gia luôn muốn chiếm lấy để khống chế nền kinh tế thị trường liệu có những giá trị nào? Nhà nước sẽ tham gia vào quá trình phát triển mang tính toàn cầu với những công cụ và phương cách nào?

Những khó khăn mà chúng ta đang gặp phải trong quá trình cải cách hành chính, hay rộng hơn, cải cách nhà nứơc và hệ thống chính trị, cho thấy rõ mức độ phức tạp của việc trả lời các câu hỏi mà đất nước đang bắt buộc phải trả lời đó.
Trong lộ trình đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi đó, có thể tin rằng cuốn sách này là một người bạn tốt.


(Theo Vinabook)



Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN mà Việt Nam đang theo đuổi đã, đang và sẽ là một trong những vấn đề trọng tâm, gây ra những tranh cãi và thảo luận không dứt. Thuật ngữ “những đỉnh cao chỉ huy” vốn được Lenin dùng để ám chỉ những ngành kinh tế trọng yếu của đất nước, những ngành có thể kiểm soát được hiệu quả và hỗ trợ cho những ngành khác; tức là những ngành mà Nhà nước cần nắm chắc trong tay khi xây dựng kinh tế thị trường. Vấn đề đặt ra luôn là: Nhà nước cần nắm giữ những “đỉnh cao chỉ huy “ nào, đâu là vai trò và trách nhiệm của Nhà nước và thị trường (ai là người chịu lỗi lớn nhất) trong những thất bại của nền kinh tế đã từng xảy ra trong thế kỷ XX trên khắp thế giới?

Bằng hàng loạt khảo sát trên nhiều trường hợp đa dạng, trải chiều dài lịch sử thế kỷ XX, các tác giả đã góp thêm nhiều kiến giải cho những vấn đề nêu trên. Đây là một cuốn sách dày nhưng không hề khô khan, trái lại rất cần thiết cho độc giả Việt Nam – quốc gia mới chập chững trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Những bài học về quan hệ Nhà nước – Thị trường trình bày trong cuốn sách có thể là những thông tin và kinh nghiệm bổ ích cho các nhà hoạch định chính sách công, các nhà kinh tế và tất cả những ai quan tâm đến hiện tình kinh tế của nước ta.

(Theo Sach Hay)



Командные высоты (tiếng Việt dịch là Những đỉnh cao chỉ huy) là tựa đề một bài diễn văn của V. I. Lenin. Lenin sử dụng khái niệm này trong báo cáo đọc tại Đại hội lần thứ 4 của Quốc tế Cộng sản để nói về những ngành kinh tế có thể kiểm soát được hiệu quả và hỗ trợ cho các ngành khác. Thực ra đây là một thuật ngữ quân sự chỉ những điểm cao quan trọng mang tính chi phối chiến trường, gọi là cao điểm chiến lược.

Lenin nói: “Chúng tôi buộc phải đi đường vòng. Chủ nghĩa tư bản nhà nước như chúng tôi đã thiết lập trong nước là một chủ nghĩa tư bản nhà nước đặc biệt. Nó khác với khái niệm thông thường về chủ nghĩa tư bản nhà nước. Chúng tôi nắm tất cả những đỉnh cao chỉ huy”.

Phải chăng chủ nghĩa tư bản nhà nước đặc biệt này chính là xuất xứ của khái niệm kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng được Lenin gọi thẳng là chủ nghĩa tư bản nhà nước? Chỉ tiếc là sau đó Lenin mất nên không rõ lý thuyết và thực tiễn cụ thể của chủ nghĩa tư bản nhà nước đặc biệt này như thế nào, có hoạt động được không?

Năm 1998, Daniel Yergin và Joseph Stanislaw đã dùng thuật ngữ Những đỉnh cao chỉ huy làm tiêu đề cho cuốn sách của mình: Commanding Heights: The Battle for the World Economy, mà các bạn đang có bản tiếng Việt trong tay.

LỜI GIỚI THIỆU

Cách đây 8 năm (năm 1998), công trình nghiên cứu Từ thần kỳ tới khủng hoảng - những bài học có ích cho Việt Nam của Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Hà Nội về cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Đông Á 1997-1998 đã đưa ra một khuyến cáo gây sự chú ý đặc biệt. Đó là khuyến cáo về “thất bại nhà nước” trong việc điều hành nền kinh tế thị trường, được UNDP coi là nguyên nhân chính gây ra sự sụp đổ của hàng loạt nền kinh tế “thần kỳ” ở Đông Á. Đối với nhiều người trong giới nghiên cứu và hoạch định chính sách ở Việt Nam lúc đó, lời cảnh báo này có phần gây “sốc”. Đơn giản vì nó đưa ra một luận điểm khá mới mẻ so với nhận thức phổ biến trong xã hội, mang tính chuẩn mực giáo khoa nhưng lại khá thiên lệch, quy mọi thứ bất ổn xảy ra trong nền kinh tế thị trường cho cái gọi là “thất bại thị trường”. Công trình nghiên cứu này cho rằng “thất bại nhà nước” vẫn thường xảy ra và gây tai hoạ to lớn không kém “thất bại thị trường”.

Thực ra, câu chuyện “thất bại nhà nước” và “thất bại thị trường” hay mối quan hệ “nhà nước” - “thị trường” không phải chủ đề nghiên cứu mới hay của riêng công trình do UNDP thực hiện. Nó chỉ góp thêm một tiếng nói, rất thiết thực và bổ ích, trực tiếp cho người Việt Nam lúc đó mới “chập chững” bước vào kinh tế thị trường - một thị trường mới mở cửa (mới được mươi năm kể từ khi đổi mới), nhằm làm sáng tỏ thêm một vấn đề có thể coi là “xưa cũ”, một vấn đề đã từng đeo đẳng, giày vò loài người nhiều thế kỷ mãi cho tới tận ngày hôm nay.

Cuốn sách mà các bạn đang cầm trên tay cũng là một công trình được viết trong nỗi ám ảnh của sự giày vò đó. Nó cũng bàn về vấn đề “nhà nước - thị trường”. Như hàng ngàn cuốn sách khác, nó bàn về một trong những vấn đề lớn nhất, phức tạp nhất, gây nhiều “phiền hà” nhất, do đó, cũng là thú vị nhất của lịch sử phát triển nhân loại.

Nhưng dù là bàn về một chủ đề “xưa cũ”, đây vẫn là một cuốn sách đáng đọc đáng đọc vì giá trị xuyên suốt lịch sử vấn đề, vì sự mổ xẻ kỹ càng bản chất vấn đề từ các chiều cạnh khác nhau của nó đáng đọc vì tính mục đích và tính định hướng tương lai của cuốn sách. Tựa đề cuốn sách: Những đỉnh cao chỉ huy - Cuộc chiến vì nền kinh tế thế giới - đã bao hàm những giá trị đó. Đọc một cuốn sách có độ dày hơn 800 trang, trong thời đại mà “văn hoá nghe nhìn” đang lấn lướt “văn hoá đọc hiểu”, lại về một chủ đề không mới, quả thật là mạo hiểm. Nhưng khi đã cầm cuốn sách và đọc nó, mọi người sẽ thấy ngay từ trang đầu tiên rằng đó là một sự mạo hiểm đáng giá. Hơn 800 trang là độ dày cần thiết và có thể chấp nhận. Đọc từ trang đầu tiên đến trang cuối cùng của cuốn sách, điều ta cảm nhận được sẽ là một bức tranh toàn cảnh đủ chân thực, rất phong phú và sinh động về lịch sử phát triển của loài người trong suốt thế kỷ XX, một thế kỷ biến động nhất của lịch sử, được dựng lên xuyên qua một cái trục quan trọng bậc nhất của nó là trục nhà nước - thị trường.

Như chính các tác giả viết, cuốn sách có nhiệm vụ trả lời những câu hỏi lớn của lịch sử hiện đại: “Tại sao phải chuyển sang cơ chế thị trường? Tại sao và như thế nào mà sự chuyển đổi từ kỷ nguyên, trong đó, chính phủ các quốc gia luôn tìm cách nắm giữ và kiểm soát nền kinh tế nhà nước sang kỷ nguyên với những ý tưởng về cạnh tranh, mở cửa, tư nhân hoá và bãi bỏ các phép tắc đã và đang thống trị tư tưởng kinh tế thế giới? Liệu những thay đổi này có phải là không thể đảo ngược? Chúng có phải là một phần của quá trình phát triển và tiến hoá liên tục? Hơn thế nữa kết quả và viễn cảnh chính trị, xã hội, kinh tế của sự thay đổi căn bản này trong mối quan hệ giữa chính phủ và thị trường là gì?”

Giải thích thêm cho việc lựa chọn những câu hỏi đó, cũng là để xác định một cách tiếp cận đến các câu trả lời, các tác giả cho rằng “ranh giới giữa chính phủ và thị trường không thể được phân định dứt khoát bởi một số cuộc hội thảo ôn hòa. Đây là chủ đề của các cuộc chiến lớn nhỏ về trí tuệ và chính trị trong suốt một thế kỷ. Các cuộc chiến nói chung đã tạo nên một trong những vở kịch lớn định hình thế kỷ XX. Ngày nay, mâu thuẫn giữa thị trường và sự kiểm soát của chính phủ đã trở nên sâu rộng đến mức đang làm thay đổi cả thế giới và làm nền cho thế kỷ XXI.”

Theo cách tiếp cận như vậy, cuốn sách chính luận này làm một cuộc khảo sát lại lịch sử tiến triển, cũng là sự thăng trầm, của các “đỉnh cao chỉ huy” trong sự giằng co nhà nước - thị trường, giúp nhận diện rõ hơn thực chất lý luận của quá trình này. Chúng ta sẽ tìm thấy qua các chương của cuốn sách những diện mạo khác nhau của nhà nước và thị trường. Đó là những diện mạo khác nhau trong các giai đoạn phát triển của lịch sử, giữa các hệ thống chính trị - xã hội, giữa các châu lục với các nền văn hoá và truyền thống khác nhau, giữa các trường phái khác nhau. Chân dung lịch sử của nhà nước, cũng như của thị trường, được cuốn sách vẽ lại từ nhiều chiều cạnh, góc độ và trong mối tương quan so sánh.

Cuốn sách đáng trân trọng vì nó cung cấp một cái nhìn khách quan và công bằng về lịch sử, về một đối tượng có tầm quan trọng sống còn của lịch sử, về một mối quan hệ có một số phận rất thăng trầm, dễ bị phán xét một cách phiến diện, thiên lệch, theo kiểu “dậu đổ bìm leo”. Nhà nước và mối quan hệ nhà nước - thị trường trong đa số trường hợp, cho đến nay vẫn thường là “nạn nhân” của sự phán xét như vậy.

Cuốn sách cho người đọc thấy rằng nhờ nắm được “các đỉnh cao chỉ huy”, nhà nước đã từng đóng vai trò rất to lớn trong sự phát triển quốc gia. Vai trò này không chỉ thể hiện ở các nước xã hội chủ nghĩa - kế hoạch hoá tập trung trước đây mà còn đặc biệt rõ ràng trong các nền kinh tế thuộc hệ thống tư bản chủ nghĩa, từ các nước phát triển cao nhất cho đến các nước kém phát triển. Các tác giả đã chứng minh không bác bỏ được rằng thậm chí ngay cả ở những nước tư bản phát triển nhất, tức là nơi có nhiều thị trường nhất, thì nhà nước cũng đã từng - và hiện vẫn đang - đóng vai trò to lớn, không chỉ là vai trò quan trọng mà còn là yếu tố quyết định sự phát triển, trong những giai đoạn lịch sử xác định. Lịch sử các nước Mỹ, Pháp, Đức, Nhật, của các nền kinh tế thần kỳ Đông Á, của Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, và của rất nhiều nước khác đã xác nhận điều đó. Dựng lại lịch sử, cuốn sách làm một việc là giúp người đọc thấy rõ hơn “bàn tay hữu hình”, tức là nhà nước, quan trọng đến nhường nào đối với loài người, cả trong hệ thống XHCN “cũ” lẫn hệ thống TBCN hiện đang tồn tại. Trong sự biện chứng của lịch sử, các chứng cứ thực tiễn được cuốn sách nêu ra khẳng định một điều: bàn tay vô hình của thị trường chỉ thực sự hữu ích một khi nó kết hợp với bàn tay hữu hình của nhà nước nhằm mục tiêu phục vụ sự phát triển của nền kinh tế thị trường.

Vì những công lao to lớn, nhà nước xứng đáng được nhận những bản tụng ca đẹp nhất. Cuốn sách đã đưa ra nhiều luận cứ, nhiều bằng chứng để chứng minh một cách thuyết phục nhận định đó. Người đọc, dù đứng trên lập trường nào, cũng sẽ cảm nhận được sự công bằng lịch sử của phán xét này.

Nhưng xét về bản chất, cuốn sách này được viết ra không phải để ngợi ca nhà nước. Nó không phải là bản tụng ca về nhà nước. Nó mổ xẻ thực tiễn và chứng tỏ rằng bên cạnh những “công lao” to lớn, nhà nước còn phạm không ít sai lầm, gây ra nhiều hậu quả, kể cả những hậu quả làm rung chuyển lịch sử. Sự sụp đổ của hệ thống XHCN thế giới dựa trên nền tảng cơ chế kế hoạch hoá tập trung hay gần đây hơn, cuộc khủng hoảng của các nền kinh tế “thần kỳ” của Đông Á cách đây một thập niên là những ví dụ điển hình minh chứng cho điều đó. Những sai lầm của nhà nước, như cuốn sách chỉ ra, hiện diện trong tất cả các hệ thống kinh tế, ở khắp các châu lục, trong mọi giai đoạn phát triển và có nguồn gốc lý luận từ các quan niệm khác nhau về vai trò của nhà nước và thị trường.

Tất nhiên, kể ra đầy đủ, toàn diện “lỗi lầm” của các loại nhà nước không phải là cách mà các tác giả sử dụng để xoá nhoà các ranh giới, làm mờ đi bản chất của nhà nước. Mục tiêu của cuốn sách là rõ ràng: cần phải chỉ ra thất bại nhà nước mà không bị sự chi phối của các thiên kiến, làm rõ các nguyên nhân lịch sử của chúng để giúp nền kinh tế thị trường vận hành hiệu quả hơn.

Thiết nghĩ cuốn sách đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình. Nhưng cũng cần nói thêm rằng đây là cuốn sách dựng lại chân dung lịch sử để hướng tới tương lai.
Đối diện với loài người là một thế giới ngày càng toàn cầu hoá. Trong thế giới đó, không gian thu hẹp lại, thời gian được rút ngắn lại, các hàng rào biên giới hạ thấp, và thế giới trở thành một “ngôi làng”. Khi đó, nền kinh tế thị trường vận hành với nhiều quy tắc mới. Toàn cầu hoá, như các tác giả viết, là một thách thức đối với nhà nước. Vì vậy mà vai trò và chức năng của nhà nước chắc chắn cũng sẽ có những thay đổi mạnh mẽ. Quyền lực nhà nước bị giới hạn trong phạm vi quốc gia có thể sẽ xung đột với quá trình toàn cầu hoá các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Khi đó, câu hỏi đặt ra sẽ là: “những đỉnh cao chỉ huy” mà các nhà nước - quốc gia luôn muốn chiếm lấy để “khống chế” nền kinh tế thị trường liệu có những giá trị nào? Nhà nước sẽ tham gia vào quá trình phát triển mang tính toàn cầu với những công cụ và phương cách nào?

Đó là những câu hỏi rất lớn đang đặt ra. Cũng là về nhà nước - thị trường, về “những đỉnh cao chỉ huy” nhưng với nội dung rất mới. Cuốn sách tiếp cận đến các câu hỏi này không chỉ để gợi suy. Nó còn là những câu trả lời. Có thể những câu trả lời hãy còn xa mới đầy đủ và đúng đắn. Song tất cả những gì hiện có trong cuốn sách là rất bổ ích, cả từ góc độ nhận thức luận lẫn phương pháp luận.

Đối với Việt Nam chúng ta, một đất nước đã 20 năm đi vào quỹ đạo phát triển kinh tế thị trường và mở cửa theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình này, nhiều “đỉnh cao chỉ huy” đã được Nhà nước bàn giao lại cho Thị trường. Nhờ đó, nền kinh tế đã gặt hái được nhiều thành công ngoạn mục. Nhưng dường như quá trình này vẫn chưa hoàn thành. Khuynh hướng muốn “giành lại”, “ôm chặt” lấy các “đỉnh cao chỉ huy” vẫn còn rất mạnh. Trên thực tế, vẫn đang tồn tại tình trạng “thiếu và thừa” nhà nước. Thiếu ở nơi cần, thừa ở nơi đã đủ. Đó là một nghịch lý phát triển mà chúng ta đang chấp nhận và phải trả giá. Tham nhũng, hiệu quả đầu tư thấp, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh chậm được cải thiện, cải cách thị trường bị phanh hãm, v.v… có nguồn gốc từ nghịch lý này.

Giờ đây, khi quá trình cải cách thị trường vẫn chưa hoàn thành, nền kinh tế nước ta lại bước vào một giai đoạn phát triển mới về chất: hội nhập sâu hơn và toàn diện hơn vào nền kinh tế thế giới. Cơ hội nhiều hơn, lớn hơn. Nhưng rủi ro, thách thức cũng gay gắt và khốc liệt hơn. Số phận của nền kinh tế đang tuỳ thuộc vào chỗ cái nào trong số đó - cơ hội hay thách thức - sẽ trở thành hiện thực sớm hơn.

Chắc chắn trong việc giải quyết vấn đề sinh tử này, Nhà nước sẽ đóng một vai trò lớn chưa từng thấy. Nhưng vai trò đó thực sự là gì? Và bằng cách nào để thực hiện nó đúng đắn?

Những khó khăn mà chúng ta đang gặp phải trong quá trình cải cách hành chính, hay rộng hơn, cải cách nhà nước và hệ thống chính trị, cho thấy rõ mức độ phức tạp của việc trả lời các câu hỏi mà đất nước đang bắt buộc phải trả lời đó.

Trong lộ trình đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi đó, có thể tin rằng cuốn sách này là một người bạn tốt.

Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

Hà Nội, ngày 28 tháng 6 năm 2006

PGS. TS. TRẦN ĐÌNH THIÊN
VIỆN KINH TẾ VIỆT NAM



MỤC LỤC

Mở đầu
TRÊN ĐƯỜNG RANH

1. BA MƯƠI NĂM HUY HOÀNG
Nền kinh tế hỗn hợp ở châu Âu

2. TAI ƯƠNG TỪ SỰ ĐỒ SỘ
Chủ nghĩa tư bản tự điều chỉnh kiểu Mỹ

3. LỜI THỀ ĐỊNH MỆNH
Sự nổi lên của Thế giới thứ ba

4. VỊ THẦY TU MẤT TRÍ
Cuộc Cách mạng Thị trường của nước Anh

5. KHỦNG HOẢNG NIỀM TIN
Cả thế giới chỉ trích

6. HƠN CẢ THẦN KỲ
Sự nổi lên của châu Á

7. MÈO ĐEN, MÈO TRẮNG
Công cuộc cải cách của Trung Quốc

8. SAU CHẾ ĐỘ CẤP PHÉP
Sự thức tỉnh của Ấn Độ

9. TUÂN THEO LUẬT CHƠI
Trò chơi mới ở Mỹ Latin

10. CHIẾC VÉ TỚI KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Hành trình tiếp sau chủ nghĩa cộng sản

11. LỜI CAM KẾT
Châu Âu kiếm tìm một khế ước xã hội mới

12. CUỘC CÁCH MẠNG BỊ TRÌ HOÃN
Thế cân bằng mới của nước Mỹ

13. KỶ NGUYÊN TOÀN CẦU HOÁ
Cuộc chiến vì nền kinh tế thế giới

14. NIỀM TIN TRỞ LẠI
Luật chơi mới

=> sách đọc không mấy thú vị, thuộc thể loại như "Thế giới phẳng". Cả cuốn sách chỉ là kể về công cuộc giành lấy vai trò thống trị của từng quốc gia, trải dài từ các nước châu Âu sang châu Mỹ, châu Á, châu Phi. Chỉ đơn thuần là kể con đường đi lên chứ không làm rõ những "khuất tất" tại sao những con người đó (nhà chỉ huy tại các đỉnh cao) được đề bạt, thăng tiến. Có thể xem đây là cuốn Cuộc đời và sự nghiệp của các nhà lãnh đạo.

Monday, October 27, 2008

Lịch sử bí mật đế quốc Hoa Kỳ ( The Secrect History of American Empire ) - John Perkins


Nhà xuất bản: Chính trị quốc gia - Sự thật
Ngôn ngữ: Tiếng Việt
Số trang: 584
Gia : 104.000VND
Ngay xuat ban: 26/11/2008

Tóm tắt

Những nhân vật và sự kiện được đề cập trong cuốn sách này hoàn toàn có thật. Tôi đã làm hết sức mình để giới thiệu thật chân thực về họ dựa trên những hồ sơ cá nhân, bản ghi chép, cũng có thư từ, e-mail, những hồi tưởng cũng như những văn bản được phép xuất bản. Trong một số trường hợp, tôi cũng có thay đổi tên nhân vật và các tình tiết, vì đó là một điều kiện mà rất nhiều người đặt ra khi tôi tiến hành phỏng vấn họ, hoặc cũng có khi tôi kết hợp các đoạn đối thoại cho phù hợp với mạch bài viết nhưng chỉ ở những đoạn không ảnh hưởng tới tính chân thực của cuốn sách. Mỗi khi đề cập tới những sự kiện lịch sử, tôi luôn tuân thủ giao ước của mình là cung cấp những thông tin cũng như ghi chép thật chính xác, đôi khi tôi còn minh họa thêm cho bài phát biểu của các nhân vật bằng những tài liệu tham khảo có liên quan ở phần ghi chú phía cuối. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tôi thay đổi hay xác nhận những chi tiết ẩn đằng sau những câu chuyện riêng tư đó; khi mỗi người kể về vai trò của họ trong những vụ không tặc máy bay dân dụng, xâm chiếm một đất nước để ám sát người đứng đầu đất nước, mua chuộc những nhà lãnh đạo cấp cao, đầu cơ trục lợi từ những thảm họa thiên nhiên, dụ dỗ và tống tiền những quan chức được bầu dân chủ, và kiểm soát những hành động bí mật khác, tôi cảm thấy mình phải có nghĩa vụ làm sáng tỏ những lời kể của họ. Tôi muốn nhấn mạnh rằng, bất cứ một sự kiện nào mà tôi đề cập đến đều từng được các tác giả khác, các sử gia và nhà báo hay những tài liệu lưu trữ của các tổ chức như Ngân hàng Thế giới đưa ra làm tài liệu dẫn chứng; vì vậy, câu chuyện có thể là của tôi nhưng các tình tiết trong đó đều là sự thật.

Mục lục

Phần một 33
Châu Á 33

Phần hai 149
MỸ LATINH 149

PHẦN III 283
KHU VỰC TRUNG ĐÔNG 283

PHẦN IV 393
CHÂU PHI 393

PHẦN V 479
THAY ĐỔI THẾ GIỚI 479

TuanVietNam

"Chính trị vỉa hè"

"Có tin đồn rằng George W. Bush đã bị quay lén khi đang sử dụng cocain và có hành vi quan hệ tình dục bất chính trong thời gian cha anh ta làm tổng thống."

Thế rồi, nhà lãnh đạo Panama lúc đó là Noriega đã "sử dụng những bức ảnh đồi truỵ của Bush con và người tình để thuyết phục Bush cha (khi đó đang là tổng thống) đứng về phía chính quyền Panama trong những vấn đề chủ chốt. Để trả đũa, Mỹ mang quân xâm lược Panama và đẩy Noriega vào nhà tù Miami."

Sự kiện Mỹ tấn công Panama năm 1989 được giải thích như vậy trong Lịch sử bí mật đế chế Hoa Kỳ. Không ai ngạc nhiên khi sách của John Perkins bán chạy. Ông biết cách viết, biết cách thắt nút và mở nút, biết đưa vào trong câu chuyện những tình tiết "vỉa hè" để một cuốn sách chính trị trở nên sống động, hấp dẫn.

Nếu như Lời thú tội của một sát thủ kinh tế (từ đây viết tắt là Lời thú tội) được viết như một tự truyện theo mạch thời gian tuyến tính, Lịch sử bí mật đế chế Hoa Kỳ (từ đây viết tắt là Bí sử) là một kiểu tự truyện được viết theo mạch không gian phi tuyến tính.

Cuốn sách đầu tiên của Perkins kể lại tuần tự cuộc đời sát thủ kinh tế của ông, từ khi "bán linh hồn cho quỷ" để gia nhập đội ngũ sát thủ kinh tế đến khi ngộ ra "tội lỗi". Cuốn sách thứ hai này chỉ như những ghi chép có ý thức của Perkins khi đi qua rất nhiều quốc gia và lục địa khác nhau. Từ Châu Á, Châu Mỹ Latinh rồi tới Châu Phi, đi đến đâu, Perkins cũng viết ra những trải nghiệm của mình và những người khác. trong quá trình nhận ra bản chất thật sự của "đế chế Hoa Kỳ".

Có khác nhau về cách kể chuyện, nhưng ý tưởng và thông điệp thì vẫn thế. Có thể coi Lịch sử bí mật đế chế Hoa Kỳ là phần tiếp theo của "bản tuyên ngôn" chống đế chế Mỹ nói riêng và toàn cầu hóa nói chung.

Những con bò cái bị vắt sữa

"Con bò cái mà chúng ta có thể vắt sữa cho tới khi về hưu"

Trong Lời thú tội, phó chủ tịch MAIN, một công ty tư vấn của Mỹ, đã nói như vậy khi nhắc tới Ảrập Xêút. Mà không chỉ đất nước này, toàn bộ các quốc gia đang phát trển theo Perkins đều là những con bò cái để nước Mỹ và tập đoàn đa quốc gia của họ "vắt sữa".

Hai cuốn sách của Perkins đều tập trung mô tả những âm mưu, quá trình và thủ đoạn "vắt sữa" của đế chế Mỹ. Âm mưu được thực hiện theo một tiến trình tuần tự với nhiều thủ đoạn. Núp dưới danh nghĩa xóa đói giảm nghèo, tập đoàn trị Mỹ (một liên minh giữa chính phủ, các ngân hàng và tập đoàn lớn) tìm mọi cách "viện trợ", "cho vay" để giúp các nước nghèo phát triển.

Qua những công ty tư vấn như MAIN (công ty mà Perkins từng làm việc), các sát thủ kinh tế vẽ ra những kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng… cho các nước nghèo và hào phóng cho họ vay tiền để thực hiện những kế hoạch đó.

Thực chất, các kế hoạch đã được sát thủ kinh tế "thổi phồng" và "phóng đại" hơn nhiều so với thực chất. Mục tiêu là để các nước khác phải vay thật nhiều và ngập trong nợ nần. Cho tới khi đó, nước Mỹ sẽ nắm quyền kiểm soát, ép các quốc gia đó phải trả nợ bằng nguồn tài nguyên khoáng sản và dầu mỏ của họ.

Tài nguyên bị vắt kiệt để trả nợ chứ không phải đầu tư cho an sinh xã hội, giáo dục, y tế đã đẩy dân nghèo ở các nước đang phát triển vào tình trạng bần cũng hóa. Đó là cái nôi nuôi dưỡng những kẻ khủng bố nước Mỹ mà sự kiện 11/9 là một ví dụ. Môi trường bị huỷ hoại nghiêm trọng bởi các tập đoàn tranh nhau khai thác vô tội vạ tài nguyên, khiến trái đất đứng trước những hiểm hoạ khôn lường.

Cuộc thập tự chinh mới của một đế quốc mới

Theo Perkins thì những định chế như Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) chỉ là những con bài để nước Mỹ sử dụng nhằm ép các nước nghèo đi theo quỹ đạo của họ. Đó là một cuộc Thập tự chinh mới, không phải bằng quân sự mà bằng kinh tế, không phải bằng những chiến binh giáo mác trên tay mà bằng những sát thủ kinh tế với các bản báo cáo giả tạo được vẽ vời cho ra vẻ khoa học. Mục tiêu là mở rộng đế chế Mỹ trên phạm vi toàn cầu để phục vụ cho lợi ích của một thiểu số những quan chức cấp cao và chủ những tập đoàn lớn.

Nhưng theo Perkins, thủ đoạn của đế chế Mỹ còn kinh khủng hơn thế. Khi những quốc gia đang phát triển bất tuân theo sự điều khiển của Mỹ, "lũ chó săn bắt đầu sử dụng đến những chiếc gậy bóng chầy và cuối cùng là súng." Những nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa dân tộc chống lại sự bóc lột của tập đoàn Mỹ sẽ bị mua chuộc bởi các sát thủ kinh tế.

Nếu các sát thủ kinh tế thất bại, những sát thủ thật sự của CIA sẽ vào cuộc. Cái chết của tổng thống Ecuador Jaime Roldos, tổng thống Panama Omar Torrijos và hàng loạt cái tên khác Arbenz, Mossadegh, Allende… đều có bàn tay vấy máu của CIA.

Gần đây nhất là cuộc chiến tranh Iraq để lật đổ nhà độc tài chống Mỹ Saddam Hussein dưới chiêu bài chống khủng bố. Theo Perkins, thực chất của tất cả những mỹ từ như dân chủ, nhân quyền, chống khủng bố chỉ là lớp áo che đậy cho âm mưu thật sự của Mỹ nhằm tước đoạt nguồn dầu mỏ, khoáng sản và khuynh loát thị trường của những quốc gia nghèo.

Trong Bí sử, Perkins đã định nghĩa đế quốc là một dân tộc thống trị dân tộc khác với 7 đặc điểm cơ bản và theo đó thì nước Mỹ hiện nay có cả bảy đặc điểm của một đế quốc. Tưởng như thời đại của chủ nghĩa đế quốc đã qua rồi nhưng thực chất, một hệ thống đế quốc mới đang được dựng nên, tinh vi và hiệu quả nhất mà thế giới từng thấy.

Tấn công vào "trái tim nhỏ máu của vua chúa"

Hai cuốn sách của Perkins như những bản cáo trạng đanh thép chống lại đế chế Mỹ mà đứng đằng sau nó là những tập đoàn lớn. Đọc Perkins để thấu hiểu những lý lẽ của phe chống toàn cầu hóa, thấu hiểu tại sao nhiều người dân ở Châu Mỹ Latinh và các quốc gia Trung Đông lại căm ghét nước Mỹ đến như vậy.

Perkins khiến người đọc phải nhìn lại tất cả những quan niệm cũ về ODA, FDI, WB, IMF… Tất cả những khoản vay "ưu đãi" được sử dụng để xây dựng cơ sở hạ tầng lại trở về túi chính những công ty trúng thầu là các tập đoàn của các nước cho vay. Cuối cùng, chỉ có các nước nghèo lâm vào cảnh nợ nần bởi những khoản vay khổng lồ dùng để tài trợ cho những dự án "bánh vẽ".

Tuy nhiên, nhìn đi cũng phải nhìn lại. Perkins có lẽ đã đi quá đà khi sử dụng thứ ngôn ngữ nặng nề nhất để chỉ trích không tiếc lời đế chế Mỹ, các tập đoàn Mỹ và tiến trình toàn cầu hóa. Không thấy có đoạn nào ông nhắc tới những giá trị mà nó đã tạo ra. Không thấy Perkins nói về những lợi ích to lớn của toàn cầu hóa, những đóng góp vĩ đại của các tập đoàn trong đổi mới công nghệ, sáng tạo sản phẩm, cải tiến mẫu mã, giảm giá thành…

Tất cả tội lỗi từ sự huỷ hoại của môi trường tới sự nghèo khổ của người dân các nước đang phát triển đều bị đổ vấy lên đầu các tập đoàn lớn, các nước giàu. Đọc Perkins dễ làm nhiều người bị kích động đi theo một quan điểm nguy hiểm: nghèo đói là vinh quang, giàu sang là tội lỗi, người nghèo vẫn cứ nghèo bởi bọn nhà giàu ăn cướp của họ. Lịch sử những cuộc cải cách ruộng đất, cách mạng văn hóa, quốc hữu hóa công nghiệp ở nhiều quốc gia đã chứng minh rằng quan điểm đó chỉ dẫn tới thảm họa.

May thay, phần kết của Lịch sử bí mật đế chế Hoa Kỳ đã mở ra một bầu trời tươi sáng hơn. Perkins đề xuất ra những biện pháp đấu tranh để "thay đổi chính bản thân các tập đoàn", khiến những tập đoàn lớn phải thực hiện những chính sách vì con người, vì môi trường và vì cộng đồng nhiều hơn.

Mỗi người phải có ý thức trong hành xử và tiêu dùng, phải ảnh hưởng tới những người khác, thuyết phục tập đoàn trị thay đổi chính sách của họ để biến "chủ nghĩa tư bản đế quốc thành chủ nghĩa tư bản dân chủ."

"Ngay cả vua chúa cũng là con người. Trái tim họ cũng có thể tan vỡ, chúng nhỏ máu. Họ có thể bị thuyết phục…" Thông điệp trong những trang cuối của cuốn sách đã mở ra những giải pháp tích cực để "chúng ta cùng chung tay đổi thay thế giới" như lời kêu gọi của Perkins.

* Khánh Duy

Một vài ý kiến của những người bình luận (phần lớn là chưa đọc sách)
Họ và tên: Hoàng Mai Dân
Địa chỉ: Hà Nội
Email: hoangmaidan@gmail.com

Tôi đã đọc cuốn "Lời thú tội của một sát thủ kinh tế", tôi đang đọc gần xong cuốn "Đô la hay lá nho" của Charles Wheelan. Hai tác giả này có cách nhìn khác nhau về thương mại và toàn cầu hoá nhưng cả 2 cuốn sách đều hay, với những ví dụ rất thực tế của toàn cầu hoá.

Có lẽ vì J. Perkins đã từng là một "sát thủ kinh tế" nên các ví dụ và cách phân tích của ông xoáy sâu vào bản chất vấn đề của các nhà đế quốc đã tính toán trước. Còn C. Wheelan đứng từ góc độ của một nhà phân tích kinh tế nên ông thấy được nhiều về lợi ích và tác hại kèm theo của việc toàn cầu hoá và giá trị lao động cũng như tiềm năng của mỗi quốc gia.

Cái gì cũng có điểm tốt, điểm xấu nhưng quan trọng là phải có cái nhìn khách quan và tận dụng những yếu tố có lợi cho mình và tiến lên.


Họ và tên: Nguyễn Trung Hiếu
Địa chỉ:
Email: olu2711@yahoo.com

Theo tôi nghĩ, chúng ta phải nên có tìm hiểu thấu đáo vấn đề rồi hãy rút ra kết luận. Tại sao chúng ta lại chỉ đọc vài dòng giới thiệu để rồi phê phán cuốn sách này cuốn sách kia. Nếu có phê phán thì hãy đọc xong cuốn sách chứ??
Tôi xin đặt câu hỏi cho tất cả các bạn phê phán cho cuốn sách này : Mĩ sẽ làm gì khi những đồng USD của họ phải trả cho việc mua dầu từ Trung Đông?
Chắn hẳn, các bạn sẽ nhận thấy 1 điều, nếu chỉ giao thương 1 chiều, thì giờ đây Trung Đông đã nắm trong tay hàng tấn tiền USD. Vậy còn cách nào hay hơn cách để các tập đoàn hùng mạnh của Mĩ sang xây dựng cho Trung Đông những thành phố đồ sộ, những tòa cao ốc chọc trời.
Nhiều bạn sẽ đặt câu hỏi: tiền của tôi thì tôi mua sắm, chứ liên quan gì đến anh? Chuyện về thế giới kinh tế không đơn thuần là vậy. Có câu nói: giờ đây Doanh nghiệp mới là thượng đế khi người tiêu dùng buộc phải tiêu dùng mặt hàng mà họ sản xuất (xin chú thích thêm: câu nói khách hàng là thượng đế là câu nói lí thuyết đã nằm im lìm trong các sách giáo khoa kinh tế)
Tôi sẽ đặt ra cho các bạn 1 câu hỏi nữa: Thử hỏi, có ai trên đời này cho KHÔNG 1 thứ gì cho chúng ta không? Vậy các nước Mĩ, Nhật, Tây Âu liệu có cho chúng ta "Viện trợ không hoàn lại" như đúng nghĩa của nó không?


Họ và tên: Khánh Duy
Địa chỉ:
Email: lonelymagician81@yahoo.com

Mỗi người đều có quan điểm đánh giá khác nhau. Perkins không phải không có lý của ông khi phê phán các tập đoàn. Cả cuộc đời Perkins đi khắp thế giới, hiểu biết rất nhiều về sự vận hành của hệ thống này. Ông viết cuốn này tương đối chủ quan, phê phán Mỹ thậm chí thoá mạ, nhưng theo tôi có thể có hai lý do:

1) Perkins vẫn nhìn thấy mặt tích cực nhưng có thể "cố tình" viết tiêu cực, nặng nề như vậy để kêu gọi sự thay đổi từ phía người dân và các tập đoàn. Một cuốn sách mang tính tuyên ngôn cho một quan điểm, nó không thể trung dung được mà buộc phải cực đoan.

2) Perkins với những kinh nghiệm làm sát thủ kinh tế của mình quá bị ảnh hưởng bởi những mặt tiêu cực. Ông viết từ những "thiên vị" của mình, cách nhìn tiêu cực của mình, không cần để ý tới khía cạnh tích cực.

Bản thân tôi ủng hộ toàn cầu hóa mà sau khi đọc xong mấy cuốn này cũng phải suy nghĩ lại một số quan điểm cũ của mình.

Nên đọc và coi đó như tài liệu tham khảo để có hiểu biết khách quan hơn.


Họ và tên: Minh Hải
Địa chỉ: Hải Phòng
Email: minhhaikt@gmail.com

Quyển sách này chẳng nói lên được điều gì cả, chỉ là cực đoan một chiều chẳng còn thích hợp chút nào cho hoàn cảnh hiện tại hoặc là chỉ làm lệch hướng tư duy của chúng ta mà thôi!

Vì như tất cả chúng ta biết rằng bản chất của buôn bán là trao đổi 2 chiều và anh phải có cái gì để trao đổi với người ta mới chính là vấn đề, nếu anh có chất xám thì anh có thể dùng chất xám để trao đổi, nếu anh có tài nguyên thiên nhiên thì anh có thể khai thác để trao đổi lấy những thứ mà mình không có khả năng làm.

Ở đây tác giả chỉ đề cập có một chiều nghĩa là tác giả chỉ thấy các các nước phát triển như Mỹ hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên của nước thế giới thứ 3 mà không thấy lợi ích của việc các nước này có thể tiếp cận với các sản phẩm kỹ thuật cao của Mỹ. Giả dụ tôi xin hỏi bạn Trung Hiếu là nếu Arab Saudi không khai thác và bán dầu cho Mỹ thì họ có thể giàu có đến như thế hay không hay dân họ sẽ phải chịu đói khổ trên cái sa mạc khô cằn mà đầy dầu mỏ đấy?

Còn bạn nói là Mỹ hay các nước phát triển o ép các nước xuất khẩu tài nguyên thì bạn càng lầm to vì tất cả chúng ta đều biết rằng giá dầu thế giới đang bị thao túng bởi tổ chức OPEC như thế nào rồi?

Ngược lại nếu Intel,IBM, AMD... mà hình thành một tổ chức độc quyền để thao túng giá chip thì ngay lập tức các bạn sẽ thấy chính phủ Mỹ áp dụng luật chống độc quyền ra sao


=> Tớ chưa đọc cuốn này nhưng qua lời giới thiệu thì thấy nó cũng hấp dẫn giống "Hồi ký của một sát thủ kinh tế" (free direct download link) cũng của John Perkins. Nhà sách Alpha cũng sắp xuất bản cuốn này (da xuat ban 11/2008), tuy nhiên, những ai đam mê thì chịu khó đọc bản english này đi. Đơi khi nào đọc xong thì tớ sẽ comment tiếp, còn ai đọc rồi thì có thể comment cho mọi ngừơi hiểu thêm nha.

Free download here
No commerce, pls!!

Friday, October 24, 2008

Cuộc Khủng Hoảng Tín Dụng Năm 2008 Và Ý Nghĩa Của Nó (The Credit Crisis of 2008 and What It Means)




Mô Thức Mới Cho Thị Trường Tài Chính - Cuộc Khủng Hoảng Tín Dụng Năm 2008 Và Ý Nghĩa Của Nó
Tác giả: George Soros. - Dịch giả: Phạm Tuấn Anh. Hoàng Hà.
Nhà xuất bản: Nxb Tri Thức

Số trang: 284
Hình thức bìa: Bìa mềm
Kích thước: 13x20 cm
Ngày xuất bản: 10 - 2008
Trọng lượng: 260 gram
Số lần xem: 30
Giá bìa: 43.000 VNĐ

Giới thiệu về nội dung

Chúng ta đang trải qua cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ những năm 1930. Về vài điểm, khủng hoảng lần này giống với các cuộc khủng hoảng khác từng xảy ra trong hai mươi lăm năm qua nhưng lại có một sự khác biệt sâu sắc: khủng hoảng hiện tại đánh dấu sự kết thúc cho một kỷ nguyên phình đại tín dụng với đồng đô la Mỹ là đồng tiền dự trữ quốc tế. Trong khi những khủng hoảng theo chu kỳ là một phần của chu trình bùng vỡ (boom-bust); thì khủnghoảng hiện tại lại là đỉnh điểm của một pha bùng phát đã kéo dài trong hơn hai mươi lăm năm.

Để hiểu được điều gì đang diễn ra, chúng ta cần một mô thức mới. Mô thức thịnh hành quan niệm rằng thị trường tài chính luôn có khuynh hướng tự trở về trạng thái cân bằng là quan niệm sai lệch; nói chung chúng ta có thể quy những rắc rối hiện nay cho chính việc hệ thống tài chính quốc tế lâu nay đã bị phát triển dựa trên mô thức đó.

Là nhân vật số một trong giới tài chính, George Soros được coi là người “một tay che cả bầu trời”, là người có thể làm mất giá bất kỳ một thứ tiền tệ nào trên thế giới, hoặc thậm chí gây ra những cuộc khủng hoảng kinh tế với qui mô toàn cầu.

Trong Mô thức mới cho thị trường tài chính, Soros đã dùng kinh nghiệm và lí luận của mình để phân tích một cách sâu sắc và thẳng thừng cuộc khủng hoảng hiện tại, đồng thời dự đoán cho cả tương lai.

George Soros đã làm được một việc vô giá: Giúp chúng ta hiểu rõ về cuộc đại khủng hoảng tín dụng và ảnh hưởng của nó lên kinh tế toàn cầu.

Mục lục:

Lời giới thiệu

Bối cảnh

Phần I: Tổng quan

Chương 1: Ý tưởng cốt lõi

Chương 2: Tự truyện của một triết gia bất thành

Chương 3: Thuyết phản hồi

Chương 4: Tính phản hồi trong thị trường tài chính

Phần II: Khủng hoảng hiện tại và sau đó

Chương 5: Giả thuyết siêu bong bóng

Chương 6: Tự truyện của một nhà đầu cơ thành công

Chương 7: Dự phóng của tôi cho 2008

Chương 8: Một vài khuyến nghị về chính sách

Kết luận

Về tác giả.



From tuoitre
Cuốn sách tôi đang đọc

Chuyên gia kinh tế Huỳnh Bửu Sơn: Không tiếc thời gian với George Soros
TT - Là chuyên gia kinh tế, những cuốn sách với ông Huỳnh Bửu Sơn là một hành trang không thể thiếu trong những chuyến đi đông đi Tây. Ông đọc nhiều loại sách: triết học, chính trị, xã hội, đặc biệt là sách kinh tế - tài chính, mà mới đây nhất là tác phẩm của George Soros.

* Mô thức mới cho thị trường tài chính vừa phát hành ở VN, chỉ ngay sau thời điểm phát hành ở Mỹ vài tháng, có phải sự nhanh nhạy ấy làm ông chú ý?

- Không, cái chính là George Soros đã lý giải một vấn đề rất thời sự ngay trước khi nó thật sự bùng nổ. Ông được xem là một nhà phù thủy tài chính vì những thành công vang dội với tư cách một nhà đầu tư tài chính và tiền tệ trong suốt hơn năm thập kỷ, nhưng ông lại thích ví mình là một triết gia, dù là - như ông tự nhận - một triết gia bất thành.

* Là một chuyên gia kinh tế, ông tìm thấy điều gì thú vị từ cuốn sách này?

- Mô thức mới cho thị trường tài chính được phát hành đầu năm 2008, lúc cơn khủng hoảng tài chính toàn cầu đang trong giai đoạn khởi phát. George Soros đã đưa ra những lý giải về hiện tượng bong bóng và siêu bong bóng tài chính trong quá trình lịch sử bùng vỡ của nó dựa trên lý thuyết phản hồi của mình - một lý thuyết nhấn mạnh về tác động của con người vào môi trường, nhất là thị trường tài chính.

Tác động đó ông gọi là "chức năng thao túng", làm thay đổi những yếu tố cơ bản của thị trường và làm thị trường mang một đặc tính mà ông gọi là "tính có thể sai triệt để". Ðiều này làm thị trường không thể nào tự điều chỉnh và trở về trạng thái cân bằng như các lý thuyết kinh tế học, những học thuyết mà theo ông: "... các giả thiết ngày càng trở nên rối rắm đã cho ra đời một thế giới tưởng tượng chỉ phản ánh được vài khía cạnh nào đó của thực tại".

Soros đã dành gần phân nửa quyển sách trình bày về lý thuyết phản hồi của ông, lý thuyết mà ông đã ấp ủ trong hơn 20 năm hoạt động trên thị trường tài chính. Nhưng điều hấp dẫn trong quyển sách mới nhất của Soros là ông đã phân tích đúng đắn và lạnh lùng nguyên nhân và hệ quả của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay, tiên đoán khá chính xác về vai trò can thiệp của các chính phủ Mỹ và châu Âu để sửa chữa sai lầm.

Ông cho rằng nền kinh tế Mỹ sẽ phải mất nhiều năm để vượt qua suy thoái, đồng đôla sẽ tiếp tục quá trình suy yếu của nó, trong khi Trung Quốc và Ấn Ðộ sẽ vượt qua khủng hoảng thành công. Ông cũng tiết lộ "chiến lược đầu tư 2008" của mình trong phần cuối quyển sách, điều mà độc giả của ông - những nhà đầu tư chứng khoán và tiền tệ - sẽ rất quan tâm.

Tuy cho rằng các chính phủ sẽ phải có những hành động cần thiết để điều tiết thị trường tài chính trong tương lai, nhưng ông vẫn tin tưởng vào xã hội mở và cho rằng "thế giới đầy những điều không chắc chắn và thị trường có thể điều chỉnh thích nghi với những hoàn cảnh đổi thay tốt hơn là những công chức hành chính".

* Ông có vẻ rất tâm đắc với những tiên đoán của "phù thủy" Soros?

- Chỉ riêng thương hiệu George Soros cũng đủ để đảm bảo rằng bạn đọc - nhất là những người quan tâm đến thị trường tài chính - sẽ không hề phí thời gian khi bỏ công nghiền ngẫm nó.

V. VIỆT thực hiện

From tuanvietnam.net

Trong cuốn sách mới được xuất bản tại Việt Nam Mô thức mới cho thị trường tài chính, nhà đầu cơ tài chính George Soros đã lý giải cuộc khủng hoảng hiện nay dưới một góc nhìn khái quát nhưng cũng rất cụ thể từ trải nghiệm của người trong cuộc.
Một bài báo phê phán George Soros đăng trên tờ Jewish World Review đã mở đầu bằng một câu chuyện hài hước thế này:

Trong một bộ phim, diễn viên Peter Sellers đã thủ vai một nhân vật mà chúng ta không biết dùng từ nào để diễn tả hợp hơn từ tâm thần có vấn đề. Thế mà, người ta lại cứ coi ông ta như một thiên tài. Trong cuộc họp báo, phóng viên hỏi ông nghĩ gì về đất nước Trung Quốc. Thiên tài trầm ngâm, cúi đầu rồi chậm rãi trả lời: "Đất nước Trung Quốc toàn là… người Trung Quốc". Đám đông phóng viên ở dưới gật đầu lia lịa, tán thưởng trí tuệ của thiên tài và thì thầm với nhau: "Toàn người Trung Quốc, đúng quá rồi".

Cũng đúng như vậy với người có tiền, khi anh có nhiều tiền, chẳng ai nghĩ anh điên cả. Hoạ chỉ có người nghèo mới điên. Khi một người giàu đến dạ hội với một bộ cánh kỳ quặc thì những người khác sẽ nghĩ rằng chính cách ăn mặc

Sự thật là Soros có quá nhiều tiền, năm 2004, ông đứng thứ 24 trong danh sách những người giàu nhất thế giới, tài sản của ông hiện tại khoảng 9 tỉ USD. Và nhà đầu cơ huyền thoại này lại là một kẻ lắm tiền hay "nói", ông viết đến cả chục cuốn sách từ kinh tế tới chính trị. Tất nhiên, chỉ tên tuổi của nhân vật được coi là "Mozart của thị trường chứng khoán" này đã khiến người ta quan tâm đến những điều ông nói rồi, đặc biệt khi ông nói về tài chính.

Và những điều "thiên tài" nói không hề "ngu ngốc" như câu chuyện mỉa mai trên, điều đó thể hiện rõ trong tác phẩm mới nhất của ông Mô thức mới cho thị trường tài chính.

"Triết học" của một "triết gia bất thành"

Soros như thường lệ không bắt đầu một cuốn sách bằng cách đi ngay vào vấn đề chính mà ông bắt đầu bằng triết học. Đó là điểm đặc biệt của ông. Soros xây dựng cho người đọc một bộ khung tư duy triết học sau đó mới dùng khuôn mẫu tư duy đó áp vào chủ đề chính, cụ thể trong cuốn sách này là cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.

Khung tư duy của Soros vẫn là một lý thuyết mà ông gọi là lý thuyết phản thân (Bản tiếng Việt dịch là phản hồi nhưng tôi cho rằng từ phản thân hợp lý hơn khi nói đến một mối liên hệ mà một vật có với chính nó).

Lý thuyết này cho rằng các hiện tượng xã hội có một cấu trúc khác so với hiện tượng tự nhiên. Trong hiện tượng tự nhiên, người quan sát và hiện tượng độc lập với nhau, diễn trình của hiện tượng không phụ thuộc vào người quan sát. Ví dụ, người quan sát có đứng ở đâu thì trái đất vẫn quay, họ không thể thay đổi thực tế đó.

Nhưng trong hiện tượng xã hội thì ngược lại, người quan sát trực tiếp tác động làm thay đổi hiện tượng chứ không chỉ đơn thuần là nhận thức chúng. Soros gọi đó là chức năng thao túng.

Ví dụ, Karl Marx cho rằng lịch sử là một quá trình tiếp nối các hình thái kinh tế xã hội, chủ nghĩa tư bản rồi đến chủ nghĩa cộng sản. Khi đó, ông không chỉ dừng lại ở việc nhận thức quá trình thay đổi mà thực chất đã tác động vào quá trình đó.

Những người đi sau đã ứng dụng học thuyết của ông để xây dựng chủ nghĩa cộng sản ngay cả ở những quốc gia mà tư bản chủ nghĩa mới manh nha hoặc chưa định hình. Như vậy, con người không chỉ nhận thức hiện tượng xã hội mà còn thao túng để thay đổi chúng theo nhận thức của mình.

Nhưng nhận thức con người theo Soros luôn không hoàn hảo và có thể sai, thậm chí triệt để sai. Những nhận thức sai hay ngộ nhận này tác động làm thay đổi hiện tượng xã hội theo những con đường bất định, không đúng với những khung lý thuyết sẵn có mà chúng ta vẫn coi như chân lý. Ví dụ trong lĩnh vực kinh tế học là lý thuyết cân bằng: hành vi con người dựa trên cơ sở thông tin, nhận thức hoàn hảo cho nên giá cả thị trường luôn có xu hướng chạy về điểm cân bằng.

Sự thực là nhận thức không hoàn hảo và luôn sai nên "thị trường rời khỏi trạng thái cân bằng với tần suất cũng ngang với chúng tiến lại trạng thái cân bằng ấy". Khi ấy, thị trường không tuân theo quy luật cân bằng mà tuân theo quy luật bùng-vỡ (boom-bust). Giá cả tăng theo kiểu "bong bóng" rồi nổ tung dẫn tới sụp đổ, phá sản hàng loạt chứ không tự điều chỉnh cân bằng.

Đó chính là khủng hoảng và theo Soros thì nhiều cuộc khủng hoảng tài chính đặc biệt là cuộc khủng hoảng hiện nay đã diễn tiến theo mô thức đó.

Mô thức tài chính mới của một "kẻ đầu cơ"

Từ triết học, Soros chuyển bước sang lĩnh vực sở trường của mình là tài chính. Nhân vật được mệnh danh là "Robin Hood tài chính" đã lý giải đâu là những ngộ nhận dẫn tới quá trình bùng-vỡ tạo ra cuộc khủng hoảng trầm trọng hiện nay.

Theo Soros, quá trình bùng-vỡ này không chỉ là hệ quả của một bong bóng bất động sản như lý giải của các nhà nghiên cứu khác mà còn của một siêu bong bóng kéo dài 25 năm qua. Mọi bong bóng đều bao gồm một xu thế chủ đạo và một ngộ nhận chủ đạo tương tác với nhau theo kiểu phản thân.

Như nhiều nhà quan sát khác, Soros cho rằng xuất phát điểm trực tiếp tạo ra cuộc khủng hoảng hiện nay là sự hình thành của bong bóng trên thị trường bất động sản Hoa Kỳ. Bong bóng này là kết quả từ xu hướng chủ đạo là việc FED hạ lãi suất liên tục xuống còn 1% để kích thích nền kinh tế sau khi bong bóng công nghệ nổ tung năm 2000 và sự kiện khủng bố 11/9/2001. Lãi suất thấp kéo dài tới giữa năm 2004 đã tạo ra bong bóng bất động sản quy mô lớn.

Tín dụng lỏng và rẻ đã khiến người đi vay "nô nức" vay còn kẻ cho vay thì tìm mọi cách tối đa hóa lợi nhuận bằng cách nới lỏng các tiêu chuẩn cho vay thế chấp. Người có "xếp hạng mức độ tín dụng kém cũng dễ dàng vay được tiền mua nhà" (các khoản vay dưới chuẩn). Những người có ít hoặc không có giấy tờ chứng minh thu nhập thậm chí không thu nhập, không nghề nghiệp, không tài sản, cũng có thể vay để mua nhà với tài sản thế chấp là chính căn nhà đó.

Cầu nhiều tất giá nhà đất càng được đẩy lên theo kiểu "bong bóng", dẫn tới hiện tượng đầu cơ tràn lan. Đa số "con bạc" trong cuộc chơi này đều ngộ nhận rằng: "giá trị của tài khoản cầm cố nhà đất đó không bị ảnh hưởng bởi sự sẵn lòng cho vay". Giá vẫn lên và tất cả "vẫn phải đứng dậy và tiếp tục khiêu vũ" theo lời chủ tịch CitiBank Chuck Prince. Ngộ nhận rằng giá trị tài sản cầm cố không thể suy giảm với độ mở tín dụng như vậy đã khiến người ta lao vào một cuộc chơi bùng nổ rồi vỡ tan chứ không quay về điểm cân bằng.

Điểm khác biệt hơn trong lý giải của nhà tài chính năm nay 78 tuổi George Soros là ở chỗ ông đã phóng chiếu một tầm nhìn rộng hơn về một bong bóng khác mà ông gọi là siêu bong bóng. Bong bóng này là sự phình đại tín dụng mang tính toàn cầu, bãi bỏ những quy định kiểm soát thị trường chặt chẽ và làm "nảy nòi" hàng loạt những "phương pháp và công cụ tài chính mới, tinh vi đễn nỗi giới điều tiết cũng mất luôn khả năng tính toán những rủi ro đi kèm."

Là "người trong chăn" của giới tài chính, Soros quá thấu hiểu và đưa ra những thông tin rất cụ thể về những công cụ tài chính phức tạp, đan xem nhau đã góp phần tạo ra cuộc khủng hoảng dây chuyền ở phố Wall.

Các ngân hàng cho vay thế chấp bất động sản đã tối thiểu hóa rủi ro của họ bằng cách đóng gói chúng lại thành những chứng khoán có tên gọi giấy nợ có thế chấp (CDOs). Các CDOs này được bán lại cho các nhà đầu tư và trở thành một "cơn cuồng" từ năm 2005. Hơn thế nữa, các quỹ đầu tư phòng hộ (hedge fund) lại bước vào thị trường bảo hiểm cho các CDOs này theo các hợp đồng hoán đổi vỡ nợ tín dụng (CDSs), một hình thức bảo hiểm trong trường hợp xảy ra vỡ nợ.

Rồi khi giá trị của những CDOs bị nghi ngờ, các ngân hàng đầu tư lại đưa chúng ra khỏi bảng cân đối tài sản và đưa vào những công cụ đầu tư kết cấu (SIVs). Các SIVs cung cấp tài chính cho các khoản đầu tư này bằng cách phát hành những thương phiếu được đảm bảo bằng tài sản… Các công cụ tài chính phức tạp mới được phát minh lại dựa trên một cơ sở thiếu lành mạnh là việc cho vay thế chấp địa ốc dưới chuẩn, tất cả đã dẫn tới sự sụp đổ của các "ông lớn" ở phố Wall.

Soros cho rằng, siêu bong bóng hình thành dựa trên xu hướng chủ đạo là những công cụ tín dụng ngày càng mở rộng và phức tạp hơn. Ngộ nhận chủ đạo ở đây là sự tin cậy thái quá vào cơ chế thị trường. "Chủ nghĩa thị trường đã trở thành một tín điều thống trị Hoa Kỳ vàơ năm 1980 khi Ronald Reagan trở thành tổng thống Hoa Kỳ và Margaret Thatcher trở thành thủ tướng Anh."

Theo Soros thì chủ thuyết này sai lầm ở chỗ nghĩ rằng thị trường luôn hoàn hảo và trở về cân bằng. Nhưng thực tế đã chứng minh ngược lại ở thị trường tài chính, nếu cứ để mặc cho thị trường phát triển với những phương pháp và công cụ tinh vi của nó thì tất yếu "sẽ đi tới những trạng thái cực đoan" như cuộc khủng hoảng đang diễn ra.

George Soros đã khá đáng yêu khi thừa nhận rằng mặc dù lý thuyết của ông đã được công bố nhiều năm nhưng "không được giới hàn lâm coi là nghiêm túc", và "chính tôi cũng nghi ngờ không hiểu những điều tôi nói có mới và ý nghĩa hay không?"

Ảnh hưởng bởi triết học Popper, Soros khiêm tốn nhận định "chân lý tối hậu nằm ngoài tầm với của con người" và những suy nghĩ của ông "không phải là kết luận mà chỉ là sự khởi đầu."

(theo T.V.N)

=> Tớ đã đọc cuốn này (bản english) thì thấy không mấy lôi cuốn nhưng thấy mấy nhà sách này quảng cáo và ra đời cuốn này trong thời điểm "loạn lạc" lúc này thì có vẻ là câu khách.
Download english version here.
No commerce, pls!!

Sunday, October 5, 2008

Nhật Tân có ông Hành mê "đặc sản" sách...

Theo ông Hành, cà phê giúp con người tỉnh táo về mặt sinh học còn sách giúp con người tỉnh táo về mặt lý học. Ông đã mở quán cà phê sách và dành gần hết đời người để chăm chút, tìm kiếm và lưu giữ những cuốn sách để tự học làm người và dạy con nên người.

Không cầu kỳ, không hoa mỹ, đèn xanh đèn đỏ như các quán nhái Tây, nhái Tầu trên các con phố mặt tiền bạc triệu, quán ông Hành nằm gọn trên đường Âu Cơ, nép mình vào triền đê Nhật Tân.

Người ta đến với ông, chỉ một phần nhỏ để nhâm nhi cà phê mà đa phần sự lôi cuốn của lòng hiếu học, hiếu đọc có trong mình và có trong ông già yêu sách.

Bán của mua sách

Ở vào cái thời “sáng khoai, chiều sắn, tối hớp trà ấm bụng”, ông Hành mê sách là có vấn đề to. Cái tuổi chăn trâu cắt cỏ đâu có cho ông một suy nghĩ xuyên thấu cả cuộc đời là sưu tầm sách để mai sau cho con cháu. Thế mà, cứ như một thứ men say, ông ngược xuôi trọn đời để chắt chiu những cuốn sách cổ nhất thời ông sống.

Gần 50 yêu và đam mê sưu tầm sách, nay ông Hành đã sở hữu tới 3.600 đầu sách quý từ cổ đến kim. Mở ngăn tủ vẫn thơm mùi sơn, ông giới thiệu lịch sử từng cuốn sách như đánh thức từng năm tháng ông đã đọc và thấu nó.

Có những cuốn xuất bản từ những năm 1932 như cuốn Từ điển Hán Việt của tác giả Đào Duy Anh; Vang bóng một thời của nhà văn Nguyễn Tuân xuất bản 1945; 42 quyển sách trong bộ Tổng tập văn học Việt Nam của tác giả Đinh Gia Khánh; 10 bản truyện Kiều xuất bản qua các thời kỳ; Bát đại kỳ thư của Trung Quốc: Tam quốc diễn nghĩa, Hồng lâu mộng, Thủy Hử, Sử ký tư mã thiên...; nhiều tác phẩm văn học kinh điển của Nga, Pháp: Chiến tranh và hòa bình, Thằng gù nhà thờ Đức bà Pa-ri; Thám tử Sơ-lốc-hôm; Thép đã tôi thế đấy...

Sách của ông khoác lên mình hai chữ “giá trị” không phải ông có trong tay những cuốn kinh điển mà là ở giai đoạn hiện nay khó mà tìm thấy quyển thứ hai.

Hồi xưa, sách xuất bản hạn chế dưới sự đô hộ của chính quyền thực dân. Trên nền giấy gió nâu nâu, có những cuốn được in chìm những hoạ tiết thiên nhiên mà sau một đời người nó vẫn sống động như vừa mới ra lò.

Đi lục tung tất cả các cửa hàng sách khó mà kiếm được những quyển sách như thế. Giá trị văn hoá và nhân văn ẩn hiện trong những trang sách ánh nên vẻ mỹ miều, tẩn mẩn đến thủ công trong công nghệ in thời lệ thuộc.

Lật lại cuộc đời như đầy ải của ông mới thấm hết giá trị từng cuốn sách ông có. Không chỉ là những trang giấy có được mà đó là sự chắt chiu từ một thời ký ức mà khi đốt than, ông vẫn dành dụm tiền mua sách, khi thất nghiệp ông cũng không quên... mua sách...

Cụ bà thân sinh ra ông xưa là người con gái đẹp trong vùng, sống trong gia đình nề nếp gia phong. Ông thừa hưởng con chữ từ bà mẹ vừa đẹp người lại vừa có chữ. Chuyện đàn bà, con gái ngày xưa biết chữ hiếm lắm, như lá thu đọng lại trên từng cọng cành khô.

Hồi ấy, mỗi khi công việc nhà rảnh, bà thường kẹp nách cuốn Lưu Bình – Dương Lễ để đọc. Cậu Hành tóc trái đào thường được mẹ nhờ đọc mỗi khi mỏi mắt. Từ ấy, thú vui đọc cho người khác đã dần hằn trong nếp nghĩ của cậu.

Như cây con bám được đất tốt, cậu đọc mê hồn trận tất cả những gì cậu nhìn thấy, cốt là có chữ. Tưởng chừng nghiệp đèn sách sẽ theo ông suốt cuộc đời để vầng trán cao như một nghệ sĩ kia sẽ chẳng phí hoài giữa bể khổ.

Sau những biến động lịch sử, gia đình thất thế, hết lớp 6, cậu trò nhỏ Nguyễn Thế Hành phải đi kiếm sống. Lao thân đi kiếm sống bằng đủ thứ nghề vừa để thân và vừa nuôi mộng với sách.

Trong thời buổi, bát cơm, tấm áo là thứ mà người đời khát cháy họng, ông lại khát... sách. Nếu không được "uống" nó, ông sẽ héo khô trong tuyệt vọng. Có những giai đoạn phải chui ra chui vào lò than, rồi lang thang đạp xích lô, làm nghề bốc vác thu nhập rất bếp bênh và bèo bọt.

Ông tưởng như mình phải đoạn tuyệt với thú đọc sách vì cuộc sống muôn vàn khó khăn cứ chất lên tấm thân gầy còm và ngày càng oằn xuống theo năm tháng nhưng dường như lại không phải thế!

Chính thời gian này ông lại mua sách, đọc sách hăng say hơn và lại dành nhiều thời gian hơn để đọc sách vì càng đắm chìm vào niềm đam mê ấy, ông như thấy mình được chia sẻ, đuợc an ủi và được tiếp thêm sức mạnh để đi tiếp trên đường đời nhọc nhằn.

Đời ông sao nhiều cái lạ lùng khó đoán. Ắt hẳn ai mê sách đều có sự hiếu học và rồi sẽ gây dựng công danh quanh chồng sách nhưng ông lại khác. Ông không thể, đúng hơn là thời thế không cho phép ông học hành vì hoàn cảnh gia đình mấy chục miệng ăn trông chờ.

Cái mộng làm thầy giáo của ông cũng lụi đi theo từng bước chân mệt mỏi của ông. Ông sẵn sàng đánh đổ tất cả để có được sách nhưng đành bất lực vì ngồi trên kho kiến thức quý mà đôi cánh đời ông không thể bay lên được.

Cái đói, cái rét đeo bám dai dẳng quanh ông nhưng không kiềm được cái khát vọng si mê sách. Của cải vô hình đã theo bước chân vạn dặm của thần thời gian trôi vào dĩ vãng còn của cải hữu hình vẫn còn văng vẳng bên tai mỗi khi ông nhắc lại cho bạn đọc đang cầm cuốn sách trên tay được đánh đổi bằng gì.

Cuốn Giăng thề của Tô Hoài ông đứt ruột đổi cho người bạn bể cá vàng óng đẹp mê li mà ông coi đó là tài sản quý nhất trong nhà.

Khi cái máu mê nó dâng lên thì nó có thể cuốn trôi bất cứ vật cản nào, kể cả những vật cản khó chọc thủng nhất bên trong tâm khảm mỗi người. May thay, cái máu mê của ông là cái máu nhân văn, đạo đức.

Ông tâm sự: “Quốc gia, tổ chức đã làm được cách mạng thì cá nhân cũng có thể làm tiểu cách mạng nhưng ý nghĩa vô cùng to lớn. Tôi học theo con đường truyền thống rất ít, có thể nói là chỉ bập bẹ thông thạo tiếng mẹ đẻ chứ chưa vành rõ nhưng nhờ sách mà tôi đã mở ra nhiều điều mà người học bài bản không có được”.

Cà phê + sách = nghệ thuật sống

Giờ đây khi đời sống của ông và gia đình đã đi qua thời “bão lửa”, ông bắt đầu có nhiều thời gian hơn chăm chút, nuôi duỡng niềm si mê sách của mình. Ông có nhiều thời gian hơn để la cà, lang thang ở những hiệu sách cũ và mới để lựa chọn những cuốn sách mà ông yêu thích.

Ông đã có một “gia tài” sách của riêng ông và không muốn chỉ giữ nó cho riêng mình mà muốn chia sẻ thú vui đọc sách và sưu tầm sách với những người cùng có niềm đam mêm.

Quán cà phê nhỏ nhỏ mở ngay tại nhà và đấy là nơi mà như ông chia sẻ đó là “không gian của sách”. Ông muốn những người ham mê sách có một không gian yên tĩnh, thoáng đãng để đọc sách, để suy ngẫm, để trao đổi về những cuốn sách hay, những nội dung có giá trị nhân văn cao cả.

Ông cho rằng “thích sách, muốn đọc sách đã là quý lắm rồi nhưng biết đọc sách mới thật sự là biết yêu sách”. Quan trọng nhất khi đọc là phải đọc sâu, từ đó có những suy nghĩ, tìm tòi để phát triển trí tuệ cũng như tâm hồn.

Thế nhưng, người đọc Việt Nam bây giờ lại thường chỉ đọc sách khi có mục đích cụ thể. Bởi thế khi nhiều thanh niên đến uống cà phê quán ông, cứ hỏi dò la có những cuốn kiểu như “Hạt giống tâm hồn” hay “Tuổi 17” không?

Ông vui vẻ giới thiệu những cuốn dầy cộm đặt vuông vắn trên giá nhưng nhiều chàng lè lưỡi, ngao ngán lắc đầu. Theo ông “Văn hoá đọc là gì, là biết cách đọc sách, phải đọc sách theo sở thích cũng như là khi ăn theo khẩu vị. Khi thấy nó ngửi đã thấy ngon, ăn vào càng nhiều và cũng dễ hấp thụ”.

Khi đọc phải có tâm thế của người có văn hoá đọc. Trước nay người ta nói nhiều đến văn hoá đọc không phải là đọc ít, đọc không hăng say mà ẩn chứa trong sau đó là cả một tâm thế đọc. Ngồi vẹo vổng, nằm chổng chân mà đọc là văn hoá chăng?

Khi trước, các cụ muốn đọc một cuốn sách hay sáng tác đều đứng nghiêm trang trước bàn thờ tổ tiên, thắp nén nhang thơm rồi mới dám đọc.

Với hơn 60% “gia tài” sách là sách quý hiếm, ông âm thầm lặng lẽ tạo ra một không gian văn hóa nhỏ để là nơi đi về của nhiều độc giả ở nhiều lứa tuổi khác nhau. Không gian sách của ông đã từng là nơi giao lưu, gặp gỡ của nhà thơ, nhà văn, giới làm nghệ thuật và cả những người đang quan tâm và bàn luận về văn hóa đọc hiện nay của giới trẻ.

Những buổi nói chuyện, trao đổi như vậy đã khiến không ít người ngỡ ngàng trước tầm trí tuệ và chiều sâu tâm hồn của ông Hành. Có nhà thơ khi biết và đến với quán cà phê của ông để đọc sách để được gặp ông, trò chuyện cùng ông đã không khỏi xúc động phóng bút tặng ngay ông bài thơ để bày tỏ lòng yêu mến và ngưỡng mộ một con người có tâm hồn và nghiệp đam mê sách như ông.

Được biết bác nghèo nhưng yêu sách
Học ít nhưng nhiều mộng văn chương
Chữ nghĩa chẳng chê người áo rách
Không là trọc phú - vẫn cao sang.

Thời buổi người ta chỉ mê tiền
Ai mà mê sách có mà điên
Nhưng thôi thời thế nay như thế
Ai người địa ngục, ai là tiên.


Mở quán cà phê mong kiếm sống
Ai vào thưởng thức sách cổ kim
Góc khuất nhìn đời con mắt sáng
Luật đời “hiểu lẽ” biết lặng im.

Để sách giãy bày chuyện xưa nay
Cà phê tỉnh mộng giữa ban ngày
Nhật Tân có quán “Cà phê - Sách”
Ai thích thì vào phút giải khuây

Ông may mắn có một người bạn phục cái tâm của ông như tác giả bài thơ Nguyên Khôi. Nhưng cả một đời người đã cúi rạp tấm thân nâng đỡ sách, nên chắc ông không có gì phải hổ thẹn cho Nguyễn Thế Hành đi vào thơ.

* Đức Chính – Thanh Duyên (04/10/2008)
[From TuanVietNam]

Friday, October 3, 2008

THE FALL OF NORTHERN ROCK - Sự sụp đổ của Northern Rock




Tên sách: THE FALL OF NORTHERN ROCK (The Insider’s Story of Britain’s Biggest Banking Disaster)
Sự sụp đổ của Northern Rock (Câu chuyện bên trong thảm họa ngân hàng tồi tệ nhất Anh Quốc)
Tác giả : Brian Walters
Phát hành: Harriman House
Dịch giả: Hùng Anh. Phương Thảo.
Nhà xuất bản: Nxb Lao động Xã hội
Giá bìa: 53.000 VNĐ
Ngày xuất bản: 09 - 2008

Giới thiệu về nội dung

Câu chuyện kinh hoàng về thảm hoạ lớn nhất trong lịch sử ngân hàng Anh

“Tháng 9 năm 2007, một bức tranh hổn loạn ở tất cả các chi nhánh của Northern Rock đã minh chứng cho lịch sử thấy điều gì sẽ xảy ra khi niềm tin của dân chúng vào một ngân hàng biến mất. Nếu sự sụp đổ của Northern Rock đã làm được điều gì đó, thì đó chính là bài học để tránh một cuộc khủng hoảng tương tự trong tương lai.

Brian Walters đã làm việc trong ngân hàng được 36 năm. Anh bắt đầu sự nghiệp tại ngân hàng Barclays từ năm 1971, sau đó làm trưởng phòng điều hành tại chi nhánh ở Coventry năm 1992 rồi chuyển xuống Leeds năm 1999 với vị trí trưởng bộ phận kinh doanh ở thành phố West Yorkshire. Năm 2005, anh tự hào vì được làm việc cho Northern Rock. Đến năm 2007, anh vô cùng thất vọng khi chứng kiến sự sụp đổ của ngân hàng.

Một số những hình ảnh đáng nhớ nhất của năm 2007 - nếu không nói là của một thập kỷ - là hình ảnh hàng ngàn người xếp hàng lần luợt tại trước cửa các chi nhánh của hệ thống ngân hàng Northern Rock để rút tiền. Không ai có thể tin được điều này lại có thể xảy ra ở nước Anh vào thế kỷ 21.

Sự sụp đổ của Northern Rock nói về quá trình phát triển của Northern Rock, từ một đơn vị tài chính được tin tưởng và nhiều người mơ ước nhất nước Anh lại bị sụp đổ một cách dễ dàng. Cuốn sách cho chúng ta thấy một Northern Rock trước, trong và sau khủng hoảng. Cuốn sách cần thiết cho bất kỳ ai muốn tìm hiểu về sự thật đằng sau thành công cũng như việc rút tiền hàng loạt xảy ra lần đầu tiên ở Anh vào năm 1866.

Mục lục:

Lời giới thiệu

Bắt đầu tại ngân hàng Northern Rock

Lược sử ngân hàng Northern Rock

Bộ phận tài chính thương mại

Một khởi đầu không thuận lợi

Tiếp tục tăng trưởng

2006 - một năm của lạc quan và tăng trưởng

Những dấu hiệu khó khăn đầu tiên

Khoảng chi ngắn

Phía sau bức màn

Rút tiền hàng loạt

Hậu quả tức thì

Ban giám đốc Northern Rock bị thảm tra

Cố tìm một giải pháp cứu nguy

Giải pháp ưa thích - tiếp quả

Tạm biệt Northern Rock

Thông báo quốc hữu hoá

Sai ở đâu?
- Mô hình kinh doanh từ an toàn chuyển qua rủi ro khi tốc độ tăng tiền gửi (hơn 2 lần) thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng các khoản vay (6 lần). Việc thiếu nguồn vốn cho vay đòi hỏi NR phải đi vay và NR đã sử dụng nguồn vay ngắn hạn trên interbank để cho vay thế chấp dài hạn.
- Muốn phát triển nhanh nên bất chấp rủi ro khi thị trường phát triển quá nóng nhưng NR vấn tiếp tục tăng tốc độ phát triển tín dụng.
- Ban kiểm soát (nội bộ lẫn chính phủ) không giám sát chặt chẽ.
- Financial Services Authority, Bank of England và Treasury Secretary không thống nhất trong biện pháp hỗ trợ NR. Lý do chính yếu là lo ngại "tâm lý ỷ lại" (moral hazard)
- Ngoài ra, sự sụp đỗ của NR còn được "hỗ trợ" bởi truyền thông khiến cho người dân, nhà đầu tư bất an.

Theo dòng thời gian.


Nhận xét từ TuanVietNam:
Chương trình “Tạp chí kinh tế cuối tuần” trên VTV1 gần đây đã đề cập đến các cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay đang kéo theo nguy cơ sụp đổ cận kề của những ngân hàng hàng đầu tại Mỹ kể cả những ngân hàng khổng lồ từng được coi là pháo đài không thể công phá như Fannie Mae và Freddie Mac.

Trong danh sách những ngân hàng sụp đổ năm 2007, có cả cái tên Northern Rock - một ngân hàng từng là biểu tượng của thành công, niềm tự hào của Anh Quốc.

Và thảm họa lụn bại đó cũng chính là nguyên cớ cho sự ra đời của cuốn sách The fall of Northern Rock (Sự sụp đổ của Northern Rock) của tác giả Brian Walters. Trong cuốn sách, ông phân tích nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ của Northern Rock - một ngân hàng từng là biểu tượng của thành công.

Nothern Rock – thuở bình minh rực rỡ

Northern Rock Building Society được thành lập vào ngày 08/07/1965, vốn là một tổ chức chuyên cấp tín dụng để xây nhà có trụ sở đặt tại Newcastle – vùng đông bắc nước Anh. Ban đầu, nó chỉ là một ngân hàng rất nhỏ so với Halifax, ngân hàng cùng lĩnh vực. Northern Rock, vào thời điểm năm 1965, đứng thứ 60 trong bảng xếp hạng các tổ chức cung cấp tín dụng xây dựng.

Sau 40 năm hoạt động, nhờ vào việc tiếp nhận và mua lại các quỹ đầu tư cũng như đa dạng hóa hình thức kinh doanh và bước chân vào lãnh địa cho vay, cho thuê nhà, Northern Rock trở thành một trong 10 ngân hàng cho vay thế chấp lớn nhất nước Anh, sau khi tiếp quản thành công Tổ chức tín dụng North of England có trụ sở tại Sunderland với hơn 300.000 các tài khoản đầu tư, 43.000 người cho vay và tổng số tài sản lên tới 1.500 triệu bảng Anh với tổng tài sản lên tới 10 tỉ bảng.

Năm 2006 lợi nhuận của ngân hàng này đạt 1,18 tỉ bảng Anh và là ngân hàng cho vay tín chấp lớn thứ 5 tại Anh. Ngoài ra Northern Rock còn là nhà tài trợ chính thức cho CLB Bóng đá nổi tiếng Newcastle United.

Brian Walters cho rằng, Northern Rock sở dĩ đạt được đạt được mức tăng trưởng cao là bởi: Northern Rock đã nỗ lực để đứng vững trong khi các tổ chức tài chính tương tự bị các đại gia trong làng ngân hàng mua lại. Vốn đầu tư ban đầu thấp, tập trung vào thị trường có lợi thế, dịch vụ sáng tạo và cạnh tranh.
Northern Rock là một ngân hàng thành công vượt qua cả tiếng tăm, quy mô của nó và đã từng được các nhà phân tích tài chính London hết lời ca ngợi. Nhưng nguyên nhân nào dẫn tới sự sụp đổ nhanh chóng vào tháng 10 năm 2007 và dẫn tới việc ngân hàng này bị quốc hữu hóa vào tháng 2 năm 2008?

… Những bước đi ẩn chứa hiểm họa

Trong The Fall of Northern Rock, Brian Walter – từng là giám đốc một chi nhánh của ngân hàng này tại Leeds - đã thuật lại diễn biến và những sự kiện dẫn tới việc ngân hàng bị quốc hữu hóa.

Đặc biệt ông đã cho người đọc thấy được suy nghĩ tình cảm của các nhân viên Northern Rock trước, trong và sau cuộc khủng hoảng; cũng như những phân tích của riêng ông về nguyên nhân và cách để tránh một thảm họa tương tự.

Mô hình kinh doanh của Northern Rock như mọi ngân hàng khác là thu hút tiền gửi vào và dùng số tiền đó cho vay thế chấp. Nhưng việc huy động vốn không phải là một quy trình đơn giản. Mặc dù thực hiện nhiều biện pháp thu hút tiền gửi tiết kiệm, lượng tiền gửi tại Northern Rock khá thấp trong khi nhu cầu vay tại ngân hàng luôn lớn hơn nhiều lần so với các khoản tiền gửi.
Nhiều năm trước điều này đã khiến Northern Rock để vuột mất nhiều cơ hội đẩy mạnh kinh doanh, vì theo các quy định của Ngân hàng Trung ương Anh, các ngân hàng chỉ được cho vay số tiền mà họ thu được từ nguồn tiền gửi, và rõ ràng là, nếu một ngân hàng không thể thu hút nhiều tiền gửi vào thì nó cũng không thể tăng số tiền cho vay ra.

Nhưng điều này đã thay đổi. Trong khi những yêu cầu về nguồn vốn dự trữ cho mỗi ngân hàng là khá chặt chẽ, thì lại chẳng hề có một quy định nào về mức tiền gửi dự trữ trong ngân hàng cần có để phục vụ hoạt động cho vay của ngân hàng đó.

Vì thế các ngân hàng giờ đây được phép cho vay nhiều hơn rất nhiều số tiền gửi tiết kiệm mà nó thu hút được. Tính trung bình thì số tiền cho vay gấp khoảng 6 lần so với số tiền gửi mà một ngân hàng đang nắm giữ. Nhưng Northern Rock còn đi xa hơn thế.

Theo nhận định của Northern Rock thị trường cho vay thế chấp là khá lành mạnh. Vì thế những gì Northern Rock làm là gói một số các khoản vay thế chấp lại vào với nhau và bán những khoản thu nhập tương lai này cho các nhà đầu tư dài hạn. Northern Rock làm việc này thông qua một công ty có tên là Granitte – và quá trình này được gọi là “chứng khoán hóa” hay “trái phiếu hóa”.

Việc trái phiếu hóa các khoản vay đã cho phép Northern Rock mở rộng việc cho vay. Theo định kỳ, nó sẽ bán các khoản thế chấp bằng cách chứng khoán hóa và đổi lại có tiền để tiếp tục cho vay.

Northern Rock thường bù đắp khoảng thời gian giữa những hợp đồng chứng khoán hóa bằng cách vay ngắn hạn từ các ngân hàng khác, được gọi là thị trường tiền mặt bán buôn. Northern Rock đã làm như vậy trong nhiều năm và quy trình này tỏ ra rất hiệu quả.

Khi một ngân hàng vay tiền trên thị trường tiền tệ họ phải trả mức lãi suất liên ngân hàng được gọi là LIBOR (London Inter-bank Offered Rate – tỉ lệ lãi suất cho vay liên ngân hàng London) – thường cao hơn một chút so với lãi suất cơ bản của ngân hàng TW Anh.

Ví dụ vào 2/01/2007 tỉ lệ lãi suất LIBOR trong 3 tháng (lãi suất áp dụng cho vay trong 3 tháng liên tiếp) là 5,32% trong khi tỉ lệ lãi suất cơ bản của ngân hàng TW Anh là 5,00%. Sự dao động giữa 2 tỉ lệ này tác động tới khả năng sinh lời của Northern Rock.

Mô hình huy động vốn này có nghĩa là Northern Rock bán một nửa hợp đồng cho vay cho các nhà đầu tư hơn là nắm giữ nó cho tới khi đáo hạn. Và đây chính là mô hình kinh doanh hoạt động hiệu quả của Northern Rock.

Chiến lược huy động vốn của ngân hàng là 25% lấy từ khoản tiền gửi tiết kiệm, 25% từ thị trường tiền tệ bán buôn và 50% từ việc chứng khoán hóa. Năm 2005 mô hình huy động vốn này – vận hành rất trơn tru đã giúp cho Northern Rock đạt được mức tăng trưởng hàng năm là 20%.

Khó khăn nào sẽ tới khi lãi suất liên ngân hàng (LIBOR) trên thị trường tiền mặt Anh tăng cao? Và một khi thị trường này đóng băng do sự lo ngại của chính phủ về sự an toàn của hệ thống ngân hàng? Hay khi nền kinh tế suy giảm do chịu tác động của sự suy giảm toàn cầu? Nếu thị trường bất động sản không họat động sôi động nữa?...


My comment:
- Sách viết khá hay, thuật ngữ dịch khá chính xác và có kèm english term ở cuối trang.
- Nội dung thể hiện được tình hình khó khăn của NR và các ngân hàng ở châu Âu trong thời điểm khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn (subprime mortgage turmoil) (các bài báo trong thời điểm tháng 8/2007 đa phần thể hiện khó khăn trên thị trường Mỹ).
- Giá bán rẻ. (Amazon $11 mà Vietnam chỉ có 53k và discount 20% nữa)